Theo bà Vũ Thị Minh Ngọc, năm 2022 là năm lực lượng quản lý thị trường cả nước sẽ kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống. Do vậy, Phòng trưng bày "Nhận diện hàng thật - hàng vi phạm các sản phẩm phục vụ Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022" là một trong chuỗi truyền thông, tập trung tuyên truyền sự kiện 65 năm của ngành. Tweet hàng thật hàng giả tiêu dùng Quảng cáo xuất hiện tràn lan trong phim hài Tết 2014. Một số độc giả bày tỏ thái độ khó chịu khi những dòng chữ quảng cáo, những logo của các đơn vị tài trợ cứ dăm ba phút lại "xoay xoay", "chạy chạy" trên góc màn hình hoặc phía dưới màn hình. Điều đó khiến Xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết lắng nghe bằng con tim, lắng nghe với sự cởi mở công bằng, tin tưởng và trung thực để tìm kiếm chân lý và thiện hảo. Xin cho mỗi người chúng ta biết trung tín với kế hoạch của Thiên Chúa, thông truyền và chia sẻ chân, thiện, mỹ trong tình huynh đệ thân ái. tết "sử giề pà" hay tết tháng tư còn mang ý nghĩa là lễ tạ ơn trâu của dân tộc bố y. bởi theo lý giải về sự tích tết "sử giề pà" của người bố y về văn hóa truyền thống của dân tộc mình thì trong dân gian có lưu truyền sự tích về tết "sử giề pà", đó là truyền thuyết về trâu thần xuống trần gian giúp dân làng tìm được nguồn nước trong cơn hạn hán … Nếu đường truyền gặp vấn đề, người dùng có thể chuyển qua xem trực tiếp trên kênh YouTube chính thức của Apple. Hiện nay đường truyền sự kiện Apple tháng 9/2022 đã được chuẩn bị sẵn, người dùng cũng có thể đặt lịch nhắc. f2HIp. Những món ăn lưu truyền trong dân gian, đều có những câu chuyện lý thú tương truyền trong dân chúng. Bánh Trung Thu được coi là biểu tượng của sự phúc lành, đoàn tụ. Mỗi năm vào ngày Rằm tháng Tám, dân Trung Hoa đoàn tụ với gia đình, ăn bánh, trái cây, uống trà và thưởng ngoạn Trăng đây là một vài sự tích về Trung Thu do sưu tầm từ internet 1/ Sự tích chị Hằng Nga Tương truyền, vào thời xa xưa, trên trời xuất hiện mười ông mặt trời, cùng chiếu xuống mặt đất nóng đến bốc khói, biển hồ khô cạn, người dân gần như không thể sống nổi. Chuyện này đã làm kinh động đến một anh hùng tên là Hậu Nghệ. Anh đã trèo lên đỉnh núi Côn Lôn, dùng thần lực giương nỏ thần bắn rụng chín ông mặt trời. Hậu Nghệ đã lập nên thần công cái thế, nhận được sự tôn kính và yêu mến của mọi người, rất nhiều chí sĩ mộ danh đã tìm đến tầm sư học đạo, trong đó có Bồng Mông là một kẻ tâm thuật bất chính. Không lâu sau, Hậu Nghệ lấy một người vợ xinh đẹp, tốt bụng, tên là Hằng Nga. Ngoài dạy học săn bắn, cả ngày Hậu Nghệ luôn ở bên cạnh vợ, mọi người đều ngưỡng mộ đôi vợ chồng trai tài gái sắc này. Một hôm, Hậu Nghệ đến núi Côn Lôn thăm bạn, trên đường tình cờ gặp được Vương mẫu nương nương đi ngang qua, bèn xin Vương mẫu thuốc trường sinh bất tử. Nghe nói, uống thuốc này vào, sẽ lập tức được bay lên trời thành tiên. Nhưng Hậu Nghệ không nỡ rời xa vợ hiền, đành tạm thời đưa thuốc bất tử cho Hằng Nga cất giữ. Hằng Nga cất thuốc vào hộp đựng gương lược của mình, không ngờ đã bị Bồng Mông nhìn thấy. Ba ngày sau, Hậu Nghệ dẫn học trò ra ngoài săn bắn, Bồng Mông với tâm địa xấu xa đã giả vờ lâm bệnh, xin ở lại. Đợi Hậu Nghệ dẫn các học trò đi không lâu, Bồng Mông tay cầm bảo kiếm, đột nhập vào hậu viện, ép Hằng Nga phải đưa ra thuốc bất tử. Hằng Nga biết mình không phải là đối thủ của Bồng Mông, trong lúc nguy cấp đã vội vàng mở hộp gương lược, lấy thuốc bất tử ra và uống hết. Hằng Nga uống thuốc xong, thấy người bỗng nhẹ rời khỏi mặt đất, hướng về cửa sổ và bay lên trời. Nhưng do Hằng Nga còn nhớ chồng, nên chỉ bay đến mặt trăng là nơi gần với nhân gian nhất rồi trở thành tiên. Tối hôm đó, khi Hậu Nghệ về đến nhà, các thị nữ vừa khóc vừa kể lại câu chuyện xảy ra lúc sáng. Hậu Nghệ vừa lo vừa giận, đã rút kiếm tìm giết nghịch đồ, nhưng Bồng Mông đã trốn đi từ lâu. Hậu Nghệ nổi giận nhưng chỉ biết vỗ ngực giậm chân kêu khóc. Trong lúc đau khổ, Hậu Nghệ đã ngửa cổ lên trời đêm gọi tên vợ hiền. Khi đó, anh kinh ngạc phát hiện ra, trăng hôm nay đặc biệt sáng ngời, mà còn có thêm một bóng người cử động trông giống Hằng Nga. Hậu Nghệ vội sai người đến hậu hoa viên nơi Hằng Nga yêu thích, lập bàn hương án, đặt lên đó những món ăn và trái cây mà bình thường Hằng Nga thích ăn nhất, để tế Hằng Nga nơi cung trăng đang nhớ đến mình. Sau khi mọi người nghe tin Hằng Nga lên cung trăng thành tiên nữ, đều đã lần lượt bày hương án dưới ánh trăng, cầu xin Hằng Nga tốt bụng ban cho may mắn và bình an. Từ đó, phong tục “bái nguyệt” vào tết trung thu được truyền đi trong dân gian. 2/ Sự Tích Chú Cuội Cung Trăng Thằng Cuội ngồi gốc cây đa Thả trâu ăn lúa gọi cha ồi ồi Cha còn cắt cỏ trên trời Mẹ còn cỡi ngựa đi mời quan viên Ông thời cầm bút cầm nghiên Bà thời cầm tiền đi chuộc lá đa. Ngày xưa ở một miền nọ có một người tiều phu tên là Cuội. Một hôm, như lệ thường, Cuội vác rìu vào rừng sâu tìm cây mà chặt. Khi đến gần một con suối nhỏ, Cuội bỗng giật mình trông thấy một cái hang cọp. Nhìn trước nhìn sau anh chỉ thấy có bốn con cọp con đang vờn nhau. Cuội liền xông đến vung rìu bổ cho mỗi con một nhát lăn quay trên mặt đất. Nhưng vừa lúc đó, cọp mẹ cũng về tới nơi. Nghe tiếng gầm kinh hồn ở sau lưng, Cuội chỉ kịp quẳng rìu leo thoắt lên ngọn một cây cao. Từ trên nhìn xuống, Cuội thấy cọp mẹ lồng lộn trước đàn con đã chết. Nhưng chỉ một lát, cọp mẹ lẳng lặng đi đến một gốc cây gần chỗ Cuội ẩn, đớp lấy một ít lá rồi trở về nhai và mớm cho con. Chưa đầy ăn giập miếng trầu, bốn con cọp con đã vẫy đuôi sống lại, khiến cho Cuội vô cùng sửng sốt. Chờ cho cọp mẹ tha con đi nơi khác, Cuội mới lần xuống tìm đến cây lạ kia đào gốc vác về. Dọc đường gặp một ông lão ăn mày nằm chết vật trên bãi cỏ, Cuội liền đặt gánh xuống, không ngần ngại, bứt ngay mấy lá nhai và mớm cho ông già! Mầu nhiệm làm sao, mớm vừa xong, ông lão đã mở mắt ngồi dậy. Thấy có cây lạ, ông lão liền hỏi chuyện. Cuội thực tình kể lại đầu đuôi. Nghe xong ông lão kêu lên - Trời ơi! Cây này chính là cây có phép "cải tử hoàn sinh" đây. Thật là trời cho con để cứu giúp thiên hạ. Con hãy chăm sóc cho cây nhưng nhớ đừng tưới bằng nước bẩn mà cây bay lên trời đó! Nói rồi ông lão chống gậy đi. Còn Cuội thì gánh cây về nhà trồng ở góc vườn phía đông, luôn luôn nhớ lời ông lão dặn, ngày nào cũng tưới bằng nước giếng ngày có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người. Hễ nghe nói có ai nhắm mắt tắt hơi là Cuội vui lòng mang lá cây đến tận nơi cứu chữa. Tiếng đồn Cuội có phép lạ lan đi khắp nơi. Một hôm, Cuội lội qua sông gặp xác một con chó chết trôi. Cuội vớt lên rồi giở lá trong mình ra cứu chữa cho chó sống lại. Con chó quấn quít theo Cuội, tỏ lòng biết ơn. Từ đấy, Cuội có thêm một con vật tinh khôn làm bạn. Một lần khác, có lão nhà giàu ở làng bên hớt hải chạy đến tìm Cuội, vật nài xin Cuội cứu cho con gái mình vừa sẩy chân chết đuối. Cuội vui lòng theo về nhà, lấy lá chữa cho. Chỉ một lát sau, mặt cô gái đang tái nhợt bỗng hồng hào hẳn lên, rồi sống lại. Thấy Cuội là người cứu sống mình, cô gái xin làm vợ chàng. Lão nhà giàu cũng vui lòng gả con cho Cuội. Vợ chồng Cuội sống với nhau thuận hòa, êm ấm thì thốt nhiên một hôm, trong khi Cuội đi vắng, có bọn giặc đi qua nhà Cuội. Biết Cuội có phép cải tử hoàn sinh, chúng quyết tâm chơi ác. Chúng bèn giết vợ Cuội, cố ý moi ruột người đàn bà vứt xuống sông, rồi mới kéo nhau đi. Khi Cuội trở về thì vợ đã chết từ bao giờ, mớm bao nhiêu lá vẫn không công hiệu, vì không có ruột thì làm sao mà sống được. Thấy chủ khóc thảm thiết, con chó lại gần xin hiến ruột mình thay vào ruột vợ chủ. Cuội chưa từng làm thế bao giờ, nhưng cũng liều mượn ruột chó thay ruột người xem sao. Quả nhiên người vợ sống lại và vẫn trẻ đẹp như xưa. Thương con chó có nghĩa, Cuội bèn nặn thử một bộ ruột bằng đất, rồi đặt vào bụng chó, chó cũng sống lại. Vợ với chồng, người với vật lại càng quấn quít với nhau hơn xưa. Nhưng cũng từ đấy, tính nết vợ Cuội tự nhiên thay đổi hẳn. Hễ nói đâu là quên đó, làm cho Cuội lắm lúc bực mình. ã không biết mấy lần, chồng dặn vợ "Có đái thì đái bên Tây, chớ đái bên ông, cây dông lên trời!". Nhưng vợ Cuội hình như lú ruột, lú gan, vừa nghe dặn xong đã quên biến ngay. Một buổi chiều, chồng còn đi rừng kiếm củi chưa về, vợ ra vườn sau, không còn nhớ lời chồng dặn, cứ nhằm vào gốc cây quý mà đái. Không ngờ chị ta vừa đái xong thì mặt đất chuyển động, cây đảo mạnh, gió thổi ào ào. Cây đa tự nhiên bật gốc, lững thững bay lên trời. Vừa lúc đó thì Cuội về đến nhà. Thấy thế, Cuội hốt hoảng vứt gánh củi, nhảy bổ đến, toan níu cây lại. Nhưng cây lúc ấy đã rời khỏi mặt đất lên quá đầu người. Cuội chỉ kịp móc rìu vào rễ cây, định lôi cây xuống, nhưng cây vẫn cứ bốc lên, không một sức nào cản nổi. Cuội cũng nhất định không chịu buông, thành thử cây kéo cả Cuội bay vút lên đến cung trăng. Từ đấy Cuội ở luôn cung trăng với cả cái cây quý của mình. Mỗi năm cây chỉ rụng xuống biển có một lá. Bọn cá heo đã chực sẵn, khi lá xuống đến mặt nước là chúng tranh nhau đớp lấy, coi như món thuốc quý để cứu chữa cho tộc loại chúng. Nhìn lên mặt trăng, người ta thấy một vết đen rõ hình một cây cổ thụ có người ngồi dưới gốc, người ta gọi cái hình ấy là hình chú Cuội ngồi gốc cây đa.... 3/ Tết Trung thu Tết Trung Thu theo âm lịch là ngày rằm tháng 8 hằng năm. Đây là ngày tết của trẻ em, còn được gọi là "Tết trông Trăng". Trẻ em rất mong đợi được đón tết này vì thường được người lớn tặng đồ chơi, thường là đèn ông sao, mặt nạ, đèn kéo quân,... rồi bánh nướng, bánh dẻo. Vào ngày tết này, người ta tổ chức bày cỗ, trông trăng. Thời điểm trăng lên cao, trẻ em sẽ vừa múa hát vừa ngắm trăng phá cỗ. Tục vui Tết Trung-Thu đã có từ thời Đường Minh Hoàng bên Trung-Hoa, vào đầu thế kỷ thứ tám 713-755. Sách xưa chép rằng, nhân một đêm rằm tháng tám, khi cùng các quan ngắm trăng, vua Đường ao-ước được lên thăm cung trăng một lần cho biết. Pháp-sư Diệu Pháp Thiên tâu xin làm phép đưa vua lên cung trăng. Lên tới cung trăng, Minh Hoàng được chúa tiên tiếp rước, bày tiệc đãi đằng và cho hàng trăm tiên nữ xinh tươi mặc áo lụa mỏng nhiều màu sắc rực rỡ, tay cầm tấm lụa trắng tung múa trên sân, vừa múa vừa hát, gọi là khúc Nghê-Thường vũ y. Vua Đường thích quá; nhờ có khiếu thẩm âm nên vừa trầm trồ khen ngợi vừa lẩm nhẩm học thuộc lòng bài hát và điệu múa mong đem về hoàng cung bày cho các cung nữ trình diễn. Cuối năm đó, quan Tiết Độ Sứ cai trị xứ Tây Lương mang về triều tiến dâng một đoàn vũ nữ với điệu múa Bà-la-môn. Vua thấy điệu múa có nhiều chỗ giống Nghê-Thường vũ y, liền chỉnh đốn hai bài hát và hai điệu làm thành Nghê-Thường vũ y khúc. Về sau các quan cũng bắt chước vua mang điệu múa hát về các phiên trấn xa xôi nơi họ cai trị rồi dần dần phổ biến khắp dân gian. Tục ngắm trăng, xem ca múa sau biến thành thú vui chơi đêm rằm Trung Thu . Về sau tết Trung Thu lan rộng sang các nước láng giềng và thuộc địa của Trung Hoa. Sách sử Việt không nói rõ dân ta bắt đầu chơi Tết Trung Thu từ bao giờ, chỉ biết hàng mấy trăm năm trước, tổ tiên ta đã theo tục này. Ngay từ đầu tháng tám âm lịch, chợ búa bắt đầu có màu sắc Trung Thu. Lồng đèn, bánh nướng, bánh dẻo đã được bày bán la liệt trong các cửa hiệu rực rỡ ánh đèn. Người mua lẫn người đi xem đông chen như hội. Ngoài các loại đèn giấy, bánh kẹo còn có các con giống đầu lân, mặt ông địa bày bán đầy các chợ. Những nhà giàu còn bày cỗ Trung Thu để khoe tài nấu nướng của các cô con gái tới tuổi lấy chồng. Ở Việt Nam, ngày tết Trung Thu được ông Phan Kế Bính diễn tả trong "VN Phong tục" "ban ngày làm cỗ cúng gia tiên, tối đến bày cỗ thưởng Nguyệt. ầu cỗ là bánh mặt trăng, và dùng nhiều thứ bánh trái hoa quả, nhuộm các màu các sắc, sặc sỡ xanh, đỏ, trắng, vàng. Con gái hàng phố thi nhau tài khéo, gọt đu đủ thành các thứ hoa nọ hoa kia, nặn bột làm con tôm con cá coi cũng đẹp". 4/ Sự tích bánh trung thu Bánh Trăng Bánh Trung Thu người Trung Hoa gọi là Bánh Trăng Nguyệt, ngày xưa còn gọi là Bánh Hồ bánh của người Hồ, bánh nhỏ, bánh đoàn đoàn tụ, bánh đoàn viên . Những loại bánh trên người Tàu ngày xưa dùng để cúng tế, dần dần trở thành bánh dùng để cúng và ăn vào ngày Trung Thu. Bánh Nguyệt có lịch sử lâu dài ở Trung Quốc, sử sách ghi chép từ thời Ân, Chu ở vùng Triết Giang đã có loại bánh kỷ niệm Thái Sư Văn Trọng gọi là bánh Thái Sư. Bánh này có thể coi như là thuỷ tổ của bánh Trung Thu. Vào thời Tây Hán, Trương Thiên đi Tây Vực mang về Trung Quốc hạt Mè, hạt Hồ đào walnut, dưa hấu làm nguyên liệu cho bánh Nguyệt thêm dồi dào. Thời đó hồ đào là nguyên liệu chính của bánh Nguyệt nên còn gọi là bánh hồ đào. Đến thời Đường trong dân gian có những người hành nghề làm bánh, ở thành phố Trường An có những tiệm bánh trứ danh. Tương truyền có một đêm Trung Thu Đường Huyền Tông và Dương Quý Phi ăn bánh hồ đào, thuởng ngoạn trăng rằm, Đường Huyền Tông chê tên bánh Hồ nghe không hay nên đặt tên là Bánh Nguyệt cho thơ mộng hơn , nên từ đó về sau Bánh Trung Thu có tên là Bánh Nguyệt mà người Tàu dùng cho đến bây giờ. Đến thời nhà Tống, tập tục ăn bánh Trung Thu rất thịnh hành trong giới quý tộc. Thơ Tống có nhiều bài viết về việc ăn bánh Trung Thu, thưởng ngoạn Trăng vào ngày này. Tuy nhiên, trong dân gian việc ăn bánh Trung Thu mới trở thành phổ cập . Các nhà kinh doanh nghề bánh dùng câu chuyện Hằng Nga trên cung Trăng để làm tăng thị hiếu. Ngày nay, Bánh Trung Thu là quà tặng cần thiết trong ngày Trung Thu. Mức lượng bánh Trung Thu sản xuất hàng năm vào mùa Trung Thu ở Đông Nam Á, Đông Á và Trung Quốc thật khổng lồ. Nhiều tiệm bánh ở vùng này nhờ lợi tức mùa bánh Trung Thu mà đủ chi tiêu cho cả năm trời. 5/ Sự tích bánh trung thu khác Bánh trung thu tượng trưng cho sự đoàn viên, là thứ không thể thiếu để cúng trăng và thổ địa công vào mỗi mùa Trung thu. Phong tục ăn bánh trung thu vào Tết Trung thu bắt đầu từ cuối đời nhà Nguyên bên Trung Quốc đến nay. Tương truyền vào thời đó, người Trung Nguyên không chịu nổi ách thống trị của người Mông Cổ, những người có chí khí đều muốn khởi nghĩa chống nhà Nguyên. Để tập hợp được các lực lượng đấu tranh, nhưng trong điều kiện không thể truyền tin đi, Lưu Bá Ôn đã nghĩ ra một cách truyền tin rộng rãi và bảo đảm, đó là kêu gọi mọi người mua bánh trung thu ăn vào Tết Trung thu để tránh họa. Sau khi mọi người mua bánh về và cắt ra, nhìn thấy bên trong có giấu một mảnh giấy viết “đêm 15 tháng 8 khởi nghĩa”, nhờ vậy người dân đã nhiệt liệt hưởng ứng, và lật đổ được nhà Nguyên. Cũng từ đó, bánh trung thu đã trở thành một món ăn không thể thiếu vào mỗi Tết Trung thu. Tết trung thu là một truyền thống từ rất lâu đời của dân tộc Việt Nam trở thành một dịp tết sum vầy đoàn viên của mọi gia đình. Tết trung thu được diễn ra vào ngày rằm tháng 8 hàng năm khi vầng trăng tròn và đẹp nhất, lúc này thời tiết đã cũng đã sang thu vô cùng mát mẻ. Tết trung thu gắn liền với chiếc đèn ông sao, chị Hằng, chú Cuội với những chiếc bánh trung thu hấp dẫn…Trong bài viết hôm nay chúng ta hãy cùng nhau khám phá về những sự tích tết Trung thu trung thu ở Việt Nam không rõ bắt đầu từ bao giờ và cũng không có tài liệu nào nói về gốc tích của ngày tết trung thu. Sự tích tết Trung thu được cho rằng du nhập từ Trung Quốc trong thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc. Thời gian bắt đầu tết trung thu tại Việt Nam bắt đầu từ thời nhà Đường vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn đó vào đêm rằm tháng tám trong khi ngự chơi ngoài thành nhà vua gặp một tiên giáng thế nhưng lại trong bộ dạng của ông lão bạc phơ. Vị tiên đã hóa phép tạo ra một chiếc cầu vồng để nhà vua đi lên cầu vồng đến cung trăng thưởng ngoạn. Khi trở về mặt đất nhà vua luyến tiếc cảnh đẹp cung trăng nên đã chọn luôn ngày này là tết Trung tích đèn ông saoKhi nhắc đến sự tích tết Trung thu sẽ không thể thiếu được chiếc đèn ông sao dành cho các em bé. Chiếc đèn ông sao được gắn liền với ngày tết Trung thu bởi sự tích kể về 2 cha con ở một ngôi làng kiếm sống bằng nghề làm đèn trung thu. Do công việc cứ lặp đi lặp lại hàng ngày người con cảm thấy rất nhàm chán. Vào một đêm trăng rất sáng và đẹp người con ngắm trăng và thấy vệt sáng 5 màu tuyệt đẹp giống như hình 5 cánh sao. Người con đã đi đốn tre để làm nên chiếc đèn ông sao, vào đêm trung thu những đứa trẻ thấy quầng sáng phát ra từ chiếc đèn ông sao vô cùng thích thú. Hai cho con đã tặng đám trẻ những chiếc đèn này và dần dần chiếc đèn ông sao trở thành một loại đồ chơi không thể thiếu của ngày tết Trung tích bánh trung thuTết trung thu là lúc mọi người quây quần bên gia đình và cùng nhau ngắm trăng thưởng thức mùi vị ngọt ngào của chiếc bánh trung thu. Bánh trung thu không biết tự bao giờ cũng đã trở thành một phần không thể thiếu trong sự tích tết Trung thu. Tương truyền ở một vương quốc nọ vào đêm rằm tháng 8 đức vua và hoàng hậu cùng nhau ngồi thưởng nguyệt, uống trà và ăn một loại bánh vô cùng ngon. Nhà vua đã đặt luôn cho loại bánh này cái tên là bánh Nguyệt và được phổ biến rộng rãi cho mọi người cùng được thưởng thức. Kể từ đó chiếc bánh Nguyệt sau này người ta vẫn thường gọi là bánh trung thu đã được lưu truyền cho đến hiện nay vào mỗi mùa trăng rằm tháng 8 để tượng trưng cho sự đoàn viên sum vầy. Sự tích tết trung thu phá cỗVào ngày tết Trung thu trẻ con thường rất thích tục phá cỗ Trung thu. Tết trung thu mọi người vẫn thường xem là tết đoàn viên bởi các thành viên trong gia đình sẽ được quây quần sum vầy bên nhau. Buổi ngày sẽ làm cỗ để cúng ông bà, tổ tiên, khi tối đến cả nhà sẽ cùng nhau “phá cỗ” cùng nhau ăn bánh, uống trà, ăn trái cây…và kể cho nhau nghe những sự tích về tết trung thu cổ truyền của dân sự tích tết trung thu đã có từ rất lâu rất lâu rồi và không ai còn nhớ chính xác về các sự tích này. Tuy nhiên dù bắt nguồn từ sự tích gì thì tết Trung thu mang đến những ý nghĩa tốt đẹp và là một nét văn hóa cổ truyền cần lưu giữ cho đến mai sau. Phong tục của người Việt, ngày Tết Trung Thu được tổ chức vào rằm tháng tám, đây là dịp các gia đình làm cỗ cũng gia tiên, bày trái cây cúng mặt trăng. Trẻ em đi rước đèn Trung Thu, thưởng thức bánh kẹo trong đêm Trung Thu. Nguồn gốc ngày Tết Trung Thu của người Việt được người ta biết nhiều đến truyền thuyết của chị Hằng gắn với chú Cuội Ở Việt Nam, nhiều tài liệu ghi rằng, từ đời nhà Lý, Tết Trung Thu đã được tổ chức ở kinh thành Thăng Long với hội đua thuyền, múa rối nước và rước đèn. Trong những truyền thuyết cổ xưa nhất, Trung Thu là dịp để những người nông dân tạ ơn Rồng đã mang mưa tới cho mùa màng bội thu. Người Việt mừng Trung Thu bằng cách làm bánh cúng tổ tiên, biếu ông bà và người thân, tổ chức cho trẻ em nhiều hoạt động vui chơi giải trí. Lễ rước đèn, bày cỗ, phá cỗ, hát trống quân… dưới trăng là những nghi thức quan trọng nhất. Bày cỗ Trung Thu thực chất là bày tỏ tấm lòng của con người với trăng, với trời cùng sản vật, hương hoa của đất. 💡 Thông tin hay dành cho bạn Hướng Dẫn Cách Làm Đèn Lồng Trung Thu Cho Bé Đơn Giản Làm Tại Nhà Nguồn gốc của ngày Tết Trung Thu của người Việt được lưu truyền từ truyền thuyết của chị Hằng gắn với chú Cuội. Chuyện kể rằng, ngày xưa có nàng tiên nữ là Hằng Nga, xinh đẹp và rất yêu trẻ con. Nàng mong muốn được xuống trần gian chơi cùng trẻ em nhưng tiên giới không cho phép. Một hôm Ngọc Hoàng tổ chức cuộc thi “Làm bánh ngày rằm”, ai làm được bánh ngon, đẹp và lạ mắt sẽ được trọng thưởng. Hằng Nga đã xuống trần gian thăm hỏi và gặp được Cuội – anh chàng chuyên gia nói dóc. Cuội bày cho Hằng Nga cách là cứ bỏ tất cả nguyên liệu hòa lại rồi đem nướng lên. Kì lạ những chiếc bánh ra lò thơm phức, các em nhỏ ăn đều khen rất ngon. Thời gian này, quân Minh đang nổi dậy chống lại Hằng Nga trở về cung trăng và đem những chiếc bánh để dự thi. Nhưng vì Cuội lưu luyến không muốn rời xa Hằng Nga nên đã nắm lấy tay nàng và sức mạnh kì lạ đã kéo cả chàng cùng cây đa đầu làng lên tận cung trăng. Ngồi trên cây đa, Cuội có thể thấy bọn trẻ đang chơi đùa, đôi lúc nhớ nhà, nhớ em, Cuội chỉ biết ngồi khóc và buồn bã. Những chiếc bánh của Hằng Nga đã giành giải nhất và lấy tên là “bánh Trung Thu”, nàng đã ước mỗi năm cứ rằm tháng tám, nàng cùng chú Cuội được xuống trần gian chơi cùng các em nhỏ. Từ đó, Ngọc Hoàng đặt tên cho rằm tháng tám là “Tết Trung Thu” – dịp tết vui chơi của các em nhỏ. Hàng năm, cứ đến rằm tháng tám, người ta tổ chức rước đèn, múa rồng, múa lân dưới ánh trắng để làm kỷ niệm chú Cuội, chị Hằng, đàn thỏ xuống mặt đất để liên hoan vui chơi. ♛ Khám phá những món quà tặng trung thu cho bé đầy ý nghĩa <— Click ngay! Ý nghĩa ngày Tết Trung Thu Tết Trung thu của người Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với người Trung Quốc. Theo phong tục của người Việt Nam, đây là dịp để con cái hiểu được sự chăm sóc qúy mến của cha mẹ đối với mình một cách cụ thể nhất. Do đó, tình yêu gia đình ngày càng trở nên khăng khít hơn bao giờ hết. Tục hát trống quân theo tương truyền có từ thời vua Lạc Long Quân. Trong văn hóa lúa nước của người Việt cổ, trăng có một ý nghĩa rất to lớn, gắn liền với mùa màng và sinh hoạt. Mùa thu lại là lúc tiết trời mát mẻ, khí hậu dễ chịu nhất trong năm. Ngày Rằm tháng 8 là khi trăng sáng nhất và đẹp nhất mà việc nông lại nhàn. Khi đó, mọi người có thể thảnh thơi thưởng trăng, hòa mình với đất trời. Tết Trung Thu là dịp trẻ em cầm đèn lồng đi chơi và hát những bài đồng dao Trong dịp Tết Trung Thu, trẻ em thường cầm những chiếc đèn lồng có hình dáng đa dạng, cùng nhau dạo chơi trong đêm Trung thu và hát những bài hát hay bài đồng dao. Đèn lồng thủ công được làm từ tre và giấy gió hay bọc vải lụa được các nghệ nhân làm từ thế kỷ XII, dưới triều đại nhà Lý. Chiếc đèn lồng được tô điểm bởi nét vẽ, đường thêu những chi tiết đặc thù Đại Việt như cành đào, hoa mai, nhánh trúc, chữ thư pháp hay các di tích văn hóa lịch sử của Việt Nam. Chiếc đèn lồng của người Việt Nam là sự biểu hiện của ấm no, hạnh phúc và tình cảm gia đình ấm áp. Ngoài ý nghĩa vui chơi cho trẻ em và người lớn, Tết Trung thu còn là dịp để người ta ngắm trăng và tiên đoán mùa màng, vận mệnh quốc gia. Nếu trăng có màu cam thì báo hiệu đất nước bước vào năm thịnh trị Nếu trăng thu màu vàng thì năm đó trúng mùa tằm tơ. Trăng mà có màu xanh lục hay thiên tại sẽ có thiên tai. Nếu trăng có màu cam thì báo hiệu đất nước bước vào năm thịnh trị. Tết Trung thu là một trong những phong tục rất có ý nghĩa. Tết Trung thu là ngày tết của tình thân, là mùa của báo hiểu, biết ơn, là ngày của đoàn tụ và của tình thương yêu với gia đình và người thân. 💡 Thông tin hay dành cho các bạn Rực Rỡ Với 5 Địa Điểm Vui Chơi Trung Thu Ở Sài Gòn Dành Cho Bé Bài viết này có hữu ích cho bạn không? Tết Trung Thu Trung thu ngày mấy trong năm?Tết Trung thu còn có tên gọi khác là gì?Tết Trung thu có nguồn gốc như thế nào?Những sự tích liên quan Tết Trung thuSự tích “chị Hằng Nga”Sự tích “chú Cuội cung trăng”Ý nghĩa Tết Trung thu ở Việt NamCác phong tục Tết Trung ThuPhong tục chơi đèn lồngPhong tục ngắm trăngPhá cỗ Trung thuXem múa lânCắt bánh trung thu Một mùa Tết Trung thu nữa lại sắp về. Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã quá quen thuộc với việc phá cỗ, rước đèn Trung thu, tặng nhau những hộp bánh thơm ngon. Vậy nguồn gốc của cái Tết này từ đâu? Ý nghĩa của nó là gì? Mọi người thường làm gì trong ngày Rằm Tháng Tám? Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc sẽ “bật mí” ngay trong bài viết sau. Trung thu ngày mấy trong năm? Trung thu rơi vào ngày 15/8 âm lịch hàng năm vì ngày này mặt trăng tròn và sáng nhất. Việt Nam là đất nước nông nghiệp, nên vào thời điểm này trong năm thường thì mùa vụ đã thu hoạch xong và mọi người sẽ có thời gian để quây quần bên nhau cũng như tổ chức những lễ hội mà trong đó tiêu biểu là lễ hội trăng rằm. Tại Việt Nam, ngoài tên gọi Tết Trung thu, dịp rằm Tháng Tám này còn có các tên gọi khác như Tết Thiếu Nhi, Tết Trông trăng hay Tết Đoàn viên. Mỗi tên gọi đều mang những ý nghĩa khác nhau. Tết thiếu nhi Tên gọi này xuất phát từ việc đây là dịp các bé được người lớn tặng nhiều đồ chơi, quà bánh, đèn lồng… Vào những ngày này, các em sẽ được cùng bạn bè rước đèn, phá cỗ Trung Thu, vui chơi thỏa thích. Tết Trông trăng Trong dịp này mọi thành viên trong gia đình cùng tề tựu bên nhau, cùng nhau ngắm trăng, phá cỗ Trung Thu, hàn huyên tâm tình dưới trăng nên Tết Trung thu còn có tên gọi khác trong dân gian là Tết trông Trăng. Tết Đoàn viên Thường thì dịp Tết Trung Thu là ngày mọi người làm ăn, đi học xa trở về bên gia đình, cùng tâm sự, thưởng thức những miếng bánh trung thu, ngắm trăng. Vì vậy mà cái tên ý nghĩa này được hình thành. Tết Trung Thu Nguồn gốc, ý nghĩa, phong tục Tết Trung thu có nguồn gốc như thế nào? Theo các nhà khảo cổ học thì Tết Trung thu ở Việt Nam có nguồn gốc từ thời xa xưa, khi mà các phong tục đón Trung thu đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Theo văn bia chùa Đọi năm 1121 thì từ đời nhà Lý, Tết Trung thu đã được chính thức tổ chức ở kinh thành Thăng Long với các hội đua thuyền, múa rối nước và rước đèn. Đến đời Lê – Trịnh thì Tết Trung thu không chỉ được tổ chức cực kỳ xa hoa trong phủ Chúa mà còn phổ biến trong dân gian. Tết Trung thu gắn liền với nền văn minh nông nghiệp của dân tộc Việt. Thời điểm này khí hậu ôn hòa mát mẻ, mùa màng đang chờ thu hoạch nên mọi người nhân dịp này mà mở hội cầu mùa, ca hát vui chơi. Trong đêm rằm Tháng Tám, nhà nhà quây quần phá cỗ, ngắm trăng, ca hát nhảy múa, trẻ con thì rước đèn đi khắp xóm làng. Cũng có người cho rằng Tết Trung thu xuất phát từ thời vua Đường Minh Hoàng 713-741. Vào đêm Rằm Tháng Tám, trăng rất tròn và trong sáng, thời tiết mát mẻ, nhà vua đang dạo chơi vườn Ngự Uyển thì gặp đạo sĩ La Công Viễn. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn, nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và hòa mình vào âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu sắc. Nhà vua vui đến quên cả lối về, đạo sĩ phải nhắc nhà vua mới chịu trở về nhưng lòng đầy quyến luyến. Về tới hoàng cung, Đường Minh Hoàng còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y. Cứ mỗi độ rằm tháng Tám lại ra lệnh cho hoàng cung bày tiệc ăn mừng, trong khi đó nhà vua và Dương Quý Phi lại cùng nhau uống rượu dưới trăng ngắm các nàng cung nữ múa hát. Dần dà, tục lệ này truyền ra dân gian, cứ mỗi độ trăng rằm tháng Tám, mọi người mọi nhà lại quay quần bên nhau phá cỗ, ngắm trăng. Vào dịp này, mọi người làm bánh Trung thu để cúng, ăn, biếu thân bằng quyến thuộc và đãi khách, trẻ nhỏ thì rước đèn trong đêm Trung thu. Không chỉ ở Việt Nam và Trung Quốc mà Tết Trung Thu cũng diễn ra ở Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc… và mỗi nơi lại có những truyền thuyết khác nhau. Nhưng nói chung, Tết Trung thu đại diện cho sự đoàn viên, quây quần và cầu chúc cho nhau những điều tốt đẹp nhất, trẻ nhỏ thì thỏa sức vui chơi, rước đèn. Một trong những giai thoại về Tết Trung Thu là ở thời Đường Minh Hoàng Những sự tích liên quan Tết Trung thu Sự tích “chị Hằng Nga” Tương truyền, vào thời xa xưa, lúc ấy có đến 10 mặt trời nên thế gian lúc nào cũng nóng bức, biển hồ khô cạn, người dân gần như không thể sống nổi. Thuở ấy cũng có một vị anh hùng tên là Hậu Nghệ đã trèo lên đỉnh núi Côn Lôn, dùng thần lực giương nỏ thần bắn rụng 9 mặt trời và chỉ để lại 1 mặt trời, nhờ đó khí hậu, mùa màng mới ổn định trở lại. Hậu Nghệ từ đó nhận được sự tôn kính và yêu mến của mọi người, rất nhiều chí sĩ mộ danh đã tìm đến tầm sư học đạo, trong đó có Bồng Mông là một kẻ tâm thuật bất chính. Không lâu sau, Hậu Nghệ lấy một người vợ xinh đẹp, tốt bụng, tên là Hằng Nga. Họ có một cuộc sống hạnh phúc khiến mọi người đều ngưỡng mộ. Một hôm, Hậu Nghệ đi thăm bạn, trên đường tình cờ gặp được Vương mẫu nương nương đi ngang qua, bèn xin Vương mẫu thuốc trường sinh bất tử. Ai uống thuốc này vào sẽ lập tức được bay lên trời thành tiên. Nhưng Hậu Nghệ không nỡ rời xa vợ, đành tạm thời đưa thuốc bất tử cho Hằng Nga cất giữ. Hằng Nga cất thuốc vào hộp đựng gương lược của mình, không ngờ Bồng Mông nhìn thấy. Ba ngày sau, khi Hậu Nghệ dẫn học trò ra ngoài săn bắn, Bồng Mông đã giả vờ bệnh, xin ở lại. Đợi Hậu Nghệ dẫn các học trò đi, Bồng Mông đã đột nhập vào hậu viện, ép Hằng Nga phải đưa ra thuốc bất tử. Hằng Nga trong lúc nguy cấp đã mở hộp gương lược, lấy thuốc bất tử ra uống hết. Sau khi uống thuốc, Hằng Nga thấy người nhẹ bổng và dần bay lên trời. Nhưng do Hằng Nga vẫn còn quyến luyến đến chồng nên chỉ bay đến mặt trăng là nơi gần với nhân gian nhất rồi ở lại đó. Tối hôm đó, khi Hậu Nghệ về đến nhà và nghe các thị nữ kể lại câu chuyện xảy ra lúc sáng. Hậu Nghệ đã định rút kiếm tìm giết nghịch đồ, nhưng Bồng Mông đã trốn đi mất. Hậu Nghệ trong lúc đau khổ đã ngửa lên trời gọi tên vợ hiền. Khi đó, anh kinh ngạc phát hiện ra, trăng hôm nay đặc biệt sáng ngời, mà còn có thêm một bóng người phụ nữ. Hậu Nghệ vội sai người đến hậu hoa viên nơi Hằng Nga yêu thích, lập bàn hương án, đặt lên đó những món ăn và trái cây mà bình thường Hằng Nga thích ăn nhất, để tưởng nhớ Hằng Nga nơi cung trăng đang nhớ đến mình. Sau khi mọi người nghe tin Hằng Nga bay lên cung trăng thành tiên nữ, đều đã lần lượt bày hương án dưới ánh trăng, cầu xin Hằng Nga ban cho may mắn và bình an. Từ đó, phong tục “bái nguyệt” vào Tết Trung thu cũng được lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Sự tích Hằng Nga Sự tích “chú Cuội cung trăng” Ngày xưa có một người tiều phu tên là Cuội. Một hôm, Cuội vác rìu vào rừng đốn củi. Khi đến gần một con suối nhỏ, Cuội trông thấy một cái hang cọp có bốn con cọp con đang vờn nhau nên đã nhanh chóng vung rìu bổ cho mỗi con một nhát lăn quay. Nhưng không may lúc đó cọp mẹ vừa về tới nơi nên Cuội phải nhanh chóng quẳng rìu leo thoắt lên ngọn cây cao gần đó. Từ trên nhìn xuống, Cuội thấy cọp mẹ lồng lộn trước đàn con đã chết rồi sau đó nó đi đến một cái cây gần đó đớp lấy một ít lá, trở về nhai và mớm cho con. Sau khi nhai những chiếc lá kia, bốn con cọp con đã sống lại. Chờ cho lũ cọp đi nơi khác, Cuội mới lần xuống tìm đến cây lạ kia đào gốc vác về. Dọc đường gặp một ông lão ăn mày nằm chết vật trên bãi cỏ, Cuội liền đặt gánh xuống, không ngần ngại, bứt ngay mấy lá nhai và mớm cho ông già! Ngay lập tức ông lão mở mắt ngồi dậy, sau đó lân la hỏi chuyện Cuội. Cuội thực tình kể lại đầu đuôi. Nghe xong ông lão kêu lên – Trời ơi! Cây này chính là cây có phép “cải tử hoàn sinh” đây. Con hãy chăm sóc cây cẩn thận và nhớ đừng tưới bằng nước bẩn mà cây bay lên trời đó! Nói rồi ông lão chống gậy đi. Cuội thì gánh cây về nhà trồng ở góc vườn, ngày nào cũng tưới bằng nước giếng trong. Từ ngày có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người. Tiếng đồn Cuội có phép thần thông lan đi khắp nơi. Một hôm, Cuội lội qua sông gặp xác một con chó chết trôi. Cuội vớt lên rồi lấy lá cây trong người ra cứu chữa sau đó mang con chó về nuôi. Từ đấy, Cuội có thêm một con vật tinh khôn làm bạn. Một lần khác, có lão nhà giàu ở làng bên đến nài xin Cuội cứu con gái mình vừa sẩy chân chết đuối. Cuội theo về nhà, lấy lá cứu sống cô gái. Cô gái tỏ lòng biết ơn xin làm vợ chàng. Vợ chồng Cuội sống với nhau một thời gian thì một hôm, trong khi Cuội đi vắng, có bọn cướp đi qua. Biết Cuội có phép cải tử hoàn sinh, chúng bèn giết vợ Cuội, moi ruột vứt xuống sông. Khi Cuội trở về thì vợ đã chết từ bao giờ, mớm bao nhiêu lá vẫn không công hiệu, vì không có ruột thì làm sao mà sống lại được. Thấy chủ khóc thảm thiết, con chó đến xin hiến ruột mình thay vào ruột vợ chủ. Cuội cũng liều một phen. Quả nhiên người vợ sống lại thật. Thương con chó có nghĩa, Cuội bèn nặn thử một bộ ruột bằng đất đặt vào bụng chó, chó cũng sống lại. Vợ với chồng, người với vật lại càng quấn quít với nhau hơn xưa. Nhưng cũng từ đấy, tính nết vợ Cuội tự nhiên thay đổi hẳn, hễ nói đâu là quên đó. ã không biết mấy lần, chồng dặn vợ “Có tiểu tiện thì đi bên Tây, chớ đi bên ông, cây dông lên trời!”. Nhưng vợ Cuội vừa nghe dặn xong đã quên ngay. Một buổi chiều, chồng còn đi rừng kiếm củi chưa về, vợ ra vườn sau, cứ nhằm vào gốc cây quý mà tiểu tiện. Không ngờ chị ta vừa đái xong thì mặt đất chuyển động, cây đảo mạnh, gió thổi ào ào. Cây đa tự nhiên bật gốc, lững thững bay lên trời. Vừa lúc đó thì Cuội về đến nhà. Thấy thế, Cuội vứt gánh củi, nhảy bổ đến, toan níu cây lại. Nhưng cây lúc ấy đã rời khỏi mặt đất lên quá đầu người. Cuội chỉ kịp móc rìu vào rễ cây, định lôi cây xuống, nhưng cây vẫn cứ bốc lên, không sức nào cản nổi. Nhưng Cuội nhất định không chịu buông, thành thử cây kéo cả Cuội bay vút lên đến cung trăng. Từ đấy Cuội ở luôn cung trăng với cả cái cây quý của mình. Nhìn lên mặt trăng mỗi đêm rằm, người ta thấy một vết đen rõ hình một cây cổ thụ có người ngồi dưới gốc, người ta gọi cái hình ấy là hình chú Cuội ngồi gốc cây đa…. Ý nghĩa Tết Trung thu ở Việt Nam Theo quan niệm của người xưa, Tết Trung thu không chỉ là dịp để cùng nhau ngắm trăng, phá cỗ mà còn là dịp mọi người cùng nhau họp mặt để tiên đoán mùa màng và vận mệnh quốc gia. Nếu trăng thu màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì đất nước sẽ thịnh trị. Tết Trung thu cũng là ngày mọi nhà chuẩn bị môt mâm cỗ thịnh soạn gồm các loại bánh và trái cây, đặc biệt là bánh Trung thu. Trước tiên là dâng lên cúng tổ tiên, ông bà, những người đã khuất. Sau đó, cả nhà sẽ cùng nhau quây quần để phá cỗ, thưởng trăng, kể chuyện cho nhau nghe. Hiện nay, vào dịp Trung thu, người ta thường tặng nhau những món quà, đa phần là các hộp bánh Trung thu để tỏ lòng hiếu kính với ông bà, bố mẹ, thay lời chúc tốt đẹp đến bạn bè, người thân, đối tác, khách hàng. Trong khi đó thì các em nhỏ sẽ cùng nhau rước đèn, phá cỗ, xem múa lân, ngắm trăng… Mâm cỗ Trung thu Các phong tục Tết Trung Thu Phong tục chơi đèn lồng Tết Trung thu đi đôi với hình ảnh chiếc đèn lồng nhiều màu sắc sáng rực rỡ dưới ánh trăng vàng. Một số lại được làm thành dạng đèn hoa đăng, mọi người sẽ cùng nhau ghi những ước nguyện vào và thả trôi xuống dòng sông mang lời cầu nguyện đi xa. Ở Trung Quốc, mọi người còn có thả đèn Khổng Minh. Đây là loại đèn có kích thức lớn, dán giấy xung quanh và thắp nến ở giữa, mọi người sẽ cùng nhau viết ước nguyện lên đèn và sau đó thả lên bầu trời. Mỗi dịp Trung thu sẽ có hàng chục, hàng trăm ngọn đèn được đồng loạt thả làm sáng rực cả một vùng trời, như thay mặt để chuyển lời cầu nguyện tới các vị thần linh. Còn hiện nay tại Việt Nam, đèn lồng chủ yếu là được làm cho trẻ em vui chơi là chính. Những chiếc đèn Trung thu cũng có vô số hình dáng từ bông hóa, cá, gấu… hầu hết được làm thủ công từ tre và giấy gió, tô vẽ bên ngoài đèn là những nét vẽ đường thêu vô cùng đặc sắc. Phong tục ngắm trăng Trăng rằm Tháng Tám được xem là biểu hiện của sự sum vầy, đoàn viên. Thời điểm này trong năm cũng là lúc khí hậu mát mẻ, trời đất hòa hợp. Vào thời xưa, đây cũng là lúc mà các nông dân nhàn nhất, có thể thảnh thơi ngắm cảnh thưởng nguyệt, phá cỗ dưới ánh trăng. Trong lúc cả nhà quây quần thì mọi người sẽ kể cho nhau nghe những câu chuyện khi đi làm ăn, đi học xa. Các ông bố bà mẹ thì sẽ kể về giai thoại chú Cuội ngồi gốc đa cho con mình nghe. Phá cỗ Trung thu Phá cổ Trung thu là phong tục lâu đời của người Việt. Mỗi năm vào dịp này, mọi gia đình sẽ bày một mâm cỗ với bánh trung thu, kẹo, các loại trái cây… Trước là dâng cúng trời đất và Trăng cùng ông bà tổ tiên, sau là để cả nhà cùng nhau quây quần phá cỗ và thưởng thức hương vị của Tết Trung thu, cùng nhau cầu mong một cuộc sống tốt lành và đoàn viên. Bánh Trung Thu Xem múa lân Vào đêm 14 và đêm 15 tháng Tám, nhiều nơi thường tổ chức múa lân. Con lân tượng trưng cho phước lành và may mắn vì vậy múa lân đêm trung thu cũng tượng trưng cho ước mong cho những điềm lành đến với mọi người mọi nhà. Cắt bánh trung thu Bánh Trung thu tượng trưng cho sự đoàn viên, là thứ không thể thiếu để cúng trăng và tổ tiên ông bà. Bánh Trung thu có hai loại gồm bánh nướng và bánh dẻo. Bánh nướng thường có vị mặn, làm bằng nhân đậu xanh và lòng đỏ trứng gà. Còn bánh dẻo có vị ngọt làm bằng nhân đậu xanh hay đậu đỏ được nấu nhừ và đánh nhuyễn như bột. Ban đầu, bánh Trung thu có hình tròn, tượng trưng cho sự đoàn viên. Dần dần, bánh được biến dạng thành hình vuông, bên ngoài bánh, phía trên mặt vẽ một vòng tròn ngay trung tâm bằng lòng đỏ trứng gà, trông như vầng trăng chiếu sáng… Ngày nay bánh Trung thu cũng được biến tấu thành nhiều loại nhân khác nhau, phù hợp với sở thích của mọi người. Mọi người thường cắt bánh Trung thu bằng với đúng số thành viên trong gia đình. Tương truyền rằng miếng bánh càng đều thì gia đình càng hạnh phúc hòa thuận. Như vậy là bạn đã biết thêm nhiều điều thú vị về Tết Trung thu rồi đấy! Chúc bạn và gia đình có một cái tết đoàn viên thật hạnh phúc và nhiều ý nghĩa.

truyền sự tích tết trung thu