Gã đàn ông gương mặt cũng trắng muốt, cười nhăn nhở chạy đi với cái núm vú trong miệng. Vệt máu chảy dài dưới cằm khiến gương mặt trắng của gã thành một anh hề trên sân khấu phố huyện" ("Con bé bị bịt mắt"), "Quang chẳng trả lời. Hắn vừa lật mông tôi
Trong phim hình như một người đàn ông nằm phủ phục xuống mặt đất chập chùng mưa phủ, đầu gối lên cánh tay buông dài chới với quãng đường còn xa phía trước. Với những viên đạn ghim vào lưng, bắn đi từ phía sau, và những dòng máu. Lắc đầu, nàng quẩy mái tóc ướt còn phủ trùm cái mũ áo mưa. Không, đó chỉ là phim ảnh.
Ăn cá nhả xương, ăn đường nuốt chậm 34. Ăn cây nào, rào cây nấy 35. Ăn chưa no, lo chưa tới Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu Đàn đâu mà gảy tai trâu Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi Một đàn cò trắng bay quanh Cho loan nhớ phượng, cho mình nhớ ta
Đàn bà nào trở dạ cũng đau như thế cả - Nhiên kéo kín khẩu trang, chỉ để hở hai con mắt, bước vào phòng hộ sinh. Sản phụ nằm trên bàn, rên rỉ, van xin: "Bác sĩ ơi! Mổ cho tôi ngay đi!". Nhiên đo vòng bụng, dự đoán thai phải nặng 3,6kg, cổ tử cung đã mở 6-7 phân.
2. Với trần gian, nàng kết từng sợi tơ trời, đổ xuống vũng chiều muối trắng mênh mông, thi nhân âm thầm tát cạn đầm nước hư vô, khai sinh ra một con chim mang tinh thể thời gian, nàng hôn chiêm bao với sợi lông vô hình chảy dài trên thung lủng vàng nhục cảm, thi ca vỡ òa trong thăm thẳm nguyên ngôn.
KfLeo. Trong cuốn sách nổi tiếng “Đàn ông sao Hỏa, đàn bà sao Kim” có nói rằng đàn ông và phụ nữ là hai mảnh ghép tuyệt vời nhất của tạo hóa. Tuy nhiên họ có những sự đối lập nhất định. Khác biệt là yếu tố gắn kết nhưng cũng đồng thời là nguyên nhân chia rẽ một mối quan hệ. Hiểu được nó chính là cách để đối phương trở nên thấu hiểu nhau hơn. Vậy còn trong quá khứ thì sao? Câu ca dao “đàn ông nông nổi giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu” mang ý nghĩa gì? Phải chăng sự khác biệt đã trở thành yếu tố trọng nam khinh nữ? Hãy cùng đọc bài viết sau đây! “Trọng nam khinh nữ” vốn đã có từ thời cha ông ta. Trong xã hội phong kiến, vai trò của người đàn ông thường được đánh giá cao hơn, đàn ông là người nắm giữ quyền hành về mọi mặt trong gia đình. Có câu “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” ý nói một con trai hơn mười con gái. Theo đó các gia đình hay dòng họ xưa đều coi trọng việc sinh con trai nối dõi, và cho đến ngày nay tư tưởng này vẫn còn tồn tại. Bị ảnh hưởng sâu sắc bởi Nho giáo, họ cho rằng đàn ông dẫu nông nổi nhưng là cái nông nổi làm nên nghiệp lớn còn đàn bà chỉ tuy sâu sắc nhưng chỉ như chiếc cơi đựng trầu nông hẹp. Ý nghĩa của thành ngữ Nghĩa đen Giếng khơi nơi phục vụ lấy nước, được đào sâu vào lòng đất, rộng về bề ngang, xung quanh được xây thành bờ vững chãiCơi đựng trầu đồ dùng để đựng trầu cau, hình dạng giống như một chiếc khay nhỏ, có đáy nông và phía bên trên có nắp đậy Giếng là cách nói ẩn dụ cho người đàn ông có chí hướng, sâu sắc và có thể làm nên nghiệp lớn nhưng ở đây lại đi với từ “nông nổi”. Cơi đựng trầu ví như tấm lòng của người đàn bà, nông cạn nhưng lại sử dụng từ “sâu sắc”. Ở đây câu tục ngữ thể hiện sự mỉa mai châm biếm của người xưa đối với xã hội chứa đựng những bất công trọng nam khinh nữ. Nghĩa bóng Câu nói “đàn ông nông nổi giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu” được sử dụng phổ biến trong xã hội xưa với ý nghĩa châm chọc, mỉa mai, hàm ý của sự trọng nam khinh nữ. Cách nhìn nhận đàn ông dù có nông nổi thì vẫn luôn chững chạc và sâu sắc hơn đàn bà về thực tế là một quan điểm lạc hậu, lỗi thời và đặt ra nhiều mâu thuẫn trong thời đại hiện nay. Tuy nhiên cũng có thể hiểu câu tục ngữ này theo nghĩa tích cực. Giếng khơi được ví như là một “ báu vật” quý giá của làng quê Việt Nam xưa. Giếng khơi xuất hiện trong nhiều bài ca dao tục ngữ xưa cùng với cây đa, mái đình, là biểu tượng của những giá trị văn hóa tốt đẹp “Cây đa, bến nước, sân đình, Đi xa ta nhớ nghĩa mình mình ơi. ” Ví von người đàn ông như giếng khơi là muốn nhấn mạnh vai trò của họ, là người phóng khoáng, tốt bụng, luôn giúp đỡ mọi người mà không cầu danh lợi. Còn cơi trầu tuy nhỏ bé nhưng cũng chứa đựng những bản sắc rất riêng của văn hóa Việt Nam. Người xưa quan niệm người phụ nữ đẹp là người có “môi đỏ, răng đen” nên các cụ thường hay nhai trầu. “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, nhà ai cưới hỏi cũng không thể thiếu đi món đặc sản truyền thống này. Tuy nhiên cơi đựng trầu không phải nhà nào cũng có, nhất là loại có hoa văn, được trang trí một cách bắt mắt, nhà nào có của ăn của để mới có được mà thôi. Vì vậy ví người phụ nữ như cơi đựng trầu muốn chỉ ra sự tháo vát, tài giỏi, nét đẹp của họ. “Đàn ông nông nổi giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu” trong đời sống hiện tại Cuộc sống hiện đại đã thay đổi rất nhiều so với thời xa xưa. Cùng với sự tiến bộ của lịch sử văn minh loài người, thì những quan niệm cũ đương nhiên sẽ không còn phù hợp. Quan niệm cũ chỉ hợp lý khi được đặt trong bối cảnh nó thuộc về. Vậy chúng ta cũng không nên áp dụng cách lý giải theo cách phân biệt đối xử giữa đàn ông và phụ nữ. Nhưng cũng không có nghĩa là bác bỏ câu tục ngữ vì nó thuộc về kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam, nó đã tồn tại và chứa đựng những dấu ấn văn hóa dân tộc. Câu nói này vẫn có thể được sử dụng trong xã hội thời nay, tuy nhiên chúng ta nên hiểu theo hướng tích cực, tránh làm tổn thương người khác bằng ý nghĩa tiêu cực. Thêm vào đó, dù là giếng khơi hay cơi đựng trầu thì cũng chưa thể bộc lộ được hết những phẩm chất tốt đẹp của con người. Để hiểu được một người khác chúng ta cần phải có quá trình tiếp xúc dài lâu, sẻ chia, đồng cảm. Hãy chấp nhận, trân trọng và yêu thương thay vì so đo giữa đàn ông với đàn bà, giữa nam và nữ. Trên đây là những lý giải về câu tục ngữ “đàn ông nông cạn giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”. Hy vọng bài viết sẽ giúp bạn có được cách nhìn nhận thực tế và sâu sắc hơn để tránh vận dụng một cách sai lệch. Hãy cân nhắc thật kĩ khi áp dụng câu nói này trong các mối quan hệ xã hội của bạn, vì nếu sử dụng không đúng thời điểm sẽ khiến người khác tổn thương. Và phần nào hiểu hơn về giá trị văn hóa tốt đẹp của con người Việt Nam xưa.
Kinh Vu Lan Báo Hiếu - Thích Trí Thoát Ta Từng Nghe Lời Tạc Như Vậy Một thuở nọ Thế Tôn an trụ Xá Vệ Thành Kỳ Thụ Viên trung Chư Tăng câu hội rất đông Tính ra đến số hai muôn tám ngàn Lại cũng có các hàng Bồ Tát Hội tại đây đủ mặt thường thường Bấy giờ Phật lại lên đường Cùng hàng đại chúng nam phương tiến hành Đáo bán lộ đành rành mắt thấy Núi xương khô bỏ đấy lâu đời Thế Tôn bèn vội đến nơi Lạy liền ba lạy, rồi rơi giọt hồng Đức A Nan trong lòng ái ngại Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương Vội vàng xin Phật dạy tường Thầy là Từ Phụ ba phương bốn loài Ai ai cũng kính Thầy dường ấy Cớ sao thầy lại lạy xương khô Phật rằng trong các môn đồ Người là đệ tử đứng đầu dày công Bởi chưa biết đục trong chưa rõ Nên vì người ta tỏ đuôi đầu Đống xương dồn dập bấy lâu Cho nên trong đó biết bao cốt hài Chắc cũng có ông bà cha mẹ Hoặc thân ta hoặc kẻ ta sanh Luân hồi sanh tử, tử sanh Lục thân đời trước, thi hài còn đây Ta lễ bái những người tiền bối Và ngậm ngùi vì nhớ kiếp xưa Đống xương hỗn tạp chẳng vừa Không phân trai gái bỏ bừa khó coi Người chịu khó xét soi cho kỹ Phân làm hai, bên nữ bên nam Để cho phân biệt cốt phàm Không còn lộn lạo nữ nam chất chồng Đức A Nan trong lòng tha thiết Biết làm sao phân biệt khỏi sai Ngài bèn xin Phật tỏ bày Vì khó chọn lựa gái trai lúc này Còn sanh tiền dễ bề sắp đặt Cách đứng đi ăn mặc phân minh Chớ khi rã xác tiêu hình Xương ai như nấy, khó nhìn khó phân Phật mới bảo A Nan nên biết Xương nữ nam phân biệt rõ ràng Đàn ông xương trắng nặng quằn Đàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn Người có biết cớ sao đen nhẹ? Bởi đàn bà sanh đẻ mà ra Sanh con ba đấu huyết ra Tám hộc bốn đấu sữa hòa nuôi con Vì cớ ấy hao mòn thân thể Xương đàn bà đen nhẹ hơn trai A Nan nghe vậy bi ai Xót thương cha mẹ công dày dưỡng sanh Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo Phương pháp nào báo hiếu song thân Thế Tôn mới bảo lời rằng Vì ngươi ta sẽ phân trần khá nghe Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc Sanh đặng con mười tháng cưu mang Tháng đầu, thai đậu tợ sương Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường Tháng thứ nhì dường như sữa đặc Tháng thứ ba như cục huyết ngưng Bốn tháng đã tượng ra hình Năm tháng ngũ thể hiện sanh rõ ràng Tháng thứ sáu lục căn đều đủ Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương Lại thêm đủ lỗ chân lông Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ Chín tháng thì đầy đủ vóc hình Mười tháng là đúng kỳ sanh Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu Nó vẫy vùng đạp quấu lung tung Làm cho cha mẹ hãi hùng Sự đau sự khổ không cùng tỏ phân Khi sanh đặng muôn phần khoái lạc Cũng ví như được bạc được vàng Thế Tôn lại bảo A Nan Ơn cha nghĩa mẹ mười phần phải tin Điều thứ nhất giữ gìn thai giáo Mười tháng trường chu đáo mọi bề Thứ hai sanh đẻ gớm ghê Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần Điều thứ ba, thâm ân nuôi dưỡng Cực đến đâu bền vững chẳng lay Thứ tư ăn đắng nuốt cay Để dành bùi ngọt đủ đầy cho con Điều thứ năm lại còn khi ngủ Ướt mẹ nằm, khô ráo phần con Thứ sáu, sú nước nhai cơm Miễn con no ấm chẳng màng gớm ghê Điều thứ bảy không chê ô uế Giặt đồ dơ của trẻ không phiền Thứ tám chẳng nỡ chia riêng Nếu con đi vắng cha phiền mẹ lo Điều thứ chín miễn con sung sướng Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam Tính sao có lợi thì làm Chẳng màng tội lỗi, bị giam bị cầm Điều thứ mười chẳng ham chau chuốt Dành cho con các cuộc thanh nhàn Thương con như ngọc như vàng Ơn cha nghĩa mẹ sánh bằng Thái Sơn! Phật lại bảo A Nan nên biết Trong chúng sanh tuy thiệt phẩm người Mười phần mê muội cả mười Không tường ơn trọng đức dày song thân Chẳng kính mến, quên ơn, trái đức Không xót thương dưỡng dục cù lao Ấy là bất hiếu mạc dao Thì những người ấy đời nào nên thân Mẹ sanh con cưu mang mười tháng Cực khổ dường gánh nặng trên vai Uống ăn chẳng đặng vì thai Cho nên thân thể hình hài kém suy Khi sanh sản hiểm nguy chi xiết Sanh đặng rồi tinh huyết đầm đề Ví như thọc huyết trâu dê Nhất sanh thập tử nhiều bề gian nan Con còn nhỏ phải năng chăm sóc Ăn đắng cay bùi ngọt phần con Phải tắm, phải giặt, rửa trôn Biết rằng dơ dáy mẹ không ngại gì Nằm phía ướt con nằm phía ráo Sợ cho con ướt áo, ướt chăn Hoặc khi ghẻ chóc đầy mình Chắc còn phải chịu trăm phần thảm thương Trọn ba năm bú nương sữa mẹ Thân gầy mòn nào nệ với con Đến khi vừa được lớn khôn Mẹ cha dạy bảo cho con vỡ lòng Cho đi học mở thông trí tuệ Dựng vợ chồng có thể làm ăn Ước mong con được nên thân Dầu cho cha mẹ cơ bần quản chi Con ốm đau tức thì lo chạy Dầu tốn hao cách mấy cũng đành Khi con căn bệnh đặng lành Thì cha mẹ mới an tâm định thần Công dưỡng dục sánh bằng non biển Cớ sao con chẳng biết ơn này Hoặc khi lầm lỗi bị rầy Chẳng tuân thì chớ lại bày ngỗ ngang Hờn cha mẹ phùng mang trợn mắt Khinh trưởng huynh nộ nạt thê nhi Bà con chẳng kể ra chi Không tuân sư phụ lễ nghi chẳng tường Lời dạy bảo song đường không kể Tiếng khuyên răn anh chị chẳng màng Trái ngang chóng báng mọi đàng Ra vào lui tới mắng càn người trên Vì lỗ mãng tánh quen làm bướng Chẳng kể lời trưởng thượng dạy răn Lớn lên theo lối hung hăng Đã không nhẫn nhịn lại càng hành hung Bỏ bạn lành theo cùng chúng dữ
Ta Từng Nghe Lời Tạc Như Vậy Một thuở nọ Thế Tôn an trụ Xá Vệ Thành Kỳ Thụ Viên trung Chư Tăng câu hội rất đông Tính ra đến số hai muôn tám ngàn Lại cũng có các hàng Bồ Tát Hội tại đây đủ mặt thường thường Bấy giờ Phật lại lên đường Cùng hàng đại chúng nam phương tiến hành Đáo bán lộ đành rành mắt thấy Núi xương khô bỏ đấy lâu đời Thế Tôn bèn vội đến nơi Lạy liền ba lạy, rồi rơi giọt hồng Đức A Nan trong lòng ái ngại Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương Vội vàng xin Phật dạy tường Thầy là Từ Phụ ba phương bốn loài Ai ai cũng kính Thầy dường ấy Cớ sao thầy lại lạy xương khô Phật rằng trong các môn đồ Người là đệ tử đứng đầu dày công Bởi chưa biết đục trong chưa rõ Nên vì người ta tỏ đuôi đầu Đống xương dồn dập bấy lâu Cho nên trong đó biết bao cốt hài Chắc cũng có ông bà cha mẹ Hoặc thân ta hoặc kẻ ta sanh Luân hồi sanh tử, tử sanh Lục thân đời trước, thi hài còn đây Ta lễ bái những người tiền bối Và ngậm ngùi vì nhớ kiếp xưa Đống xương hỗn tạp chẳng vừa Không phân trai gái bỏ bừa khó coi Người chịu khó xét soi cho kỹ Phân làm hai, bên nữ bên nam Để cho phân biệt cốt phàm Không còn lộn lạo nữ nam chất chồng Đức A Nan trong lòng tha thiết Biết làm sao phân biệt khỏi sai Ngài bèn xin Phật tỏ bày Vì khó chọn lựa gái trai lúc này Còn sanh tiền dễ bề sắp đặt Cách đứng đi ăn mặc phân minh Chớ khi rã xác tiêu hình Xương ai như nấy, khó nhìn khó phân Phật mới bảo A Nan nên biết Xương nữ nam phân biệt rõ ràng Đàn ông xương trắng nặng quằn Đàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn Người có biết cớ sao đen nhẹ? Bởi đàn bà sanh đẻ mà ra Sanh con ba đấu huyết ra Tám hộc bốn đấu sữa hòa nuôi con Vì cớ ấy hao mòn thân thể Xương đàn bà đen nhẹ hơn trai A Nan nghe vậy bi ai Xót thương cha mẹ công dày dưỡng sanh Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo Phương pháp nào báo hiếu song thân Thế Tôn mới bảo lời rằng Vì ngươi ta sẽ phân trần khá nghe Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc Sanh đặng con mười tháng cưu mang Tháng đầu, thai đậu tợ sương Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường Tháng thứ nhì dường như sữa đặc Tháng thứ ba như cục huyết ngưng Bốn tháng đã tượng ra hình Năm tháng ngũ thể hiện sanh rõ ràng Tháng thứ sáu lục căn đều đủ Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương Lại thêm đủ lỗ chân lông Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ Chín tháng thì đầy đủ vóc hình Mười tháng là đúng kỳ sanh Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu Nó vẫy vùng đạp quấu lung tung Làm cho cha mẹ hãi hùng Sự đau sự khổ không cùng tỏ phân Khi sanh đặng muôn phần khoái lạc Cũng ví như được bạc được vàng Thế Tôn lại bảo A Nan Ơn cha nghĩa mẹ mười phần phải tin Điều thứ nhất giữ gìn thai giáo Mười tháng trường chu đáo mọi bề Thứ hai sanh đẻ gớm ghê Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần Điều thứ ba, thâm ân nuôi dưỡng Cực đến đâu bền vững chẳng lay Thứ tư ăn đắng nuốt cay Để dành bùi ngọt đủ đầy cho con Điều thứ năm lại còn khi ngủ Ướt mẹ nằm, khô ráo phần con Thứ sáu, sú nước nhai cơm Miễn con no ấm chẳng màng gớm ghê Điều thứ bảy không chê ô uế Giặt đồ dơ của trẻ không phiền Thứ tám chẳng nỡ chia riêng Nếu con đi vắng cha phiền mẹ lo Điều thứ chín miễn con sung sướng Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam Tính sao có lợi thì làm Chẳng màng tội lỗi, bị giam bị cầm Điều thứ mười chẳng ham chau chuốt Dành cho con các cuộc thanh nhàn Thương con như ngọc như vàng Ơn cha nghĩa mẹ sánh bằng Thái Sơn! Phật lại bảo A Nan nên biết Trong chúng sanh tuy thiệt phẩm người Mười phần mê muội cả mười Không tường ơn trọng đức dày song thân Chẳng kính mến, quên ơn, trái đức Không xót thương dưỡng dục cù lao Ấy là bất hiếu mạc dao Thì những người ấy đời nào nên thân Mẹ sanh con cưu mang mười tháng Cực khổ dường gánh nặng trên vai Uống ăn chẳng đặng vì thai Cho nên thân thể hình hài kém suy Khi sanh sản hiểm nguy chi xiết Sanh đặng rồi tinh huyết đầm đề Ví như thọc huyết trâu dê Nhất sanh thập tử nhiều bề gian nan Con còn nhỏ phải năng chăm sóc Ăn đắng cay bùi ngọt phần con Phải tắm, phải giặt, rửa trôn Biết rằng dơ dáy mẹ không ngại gì Nằm phía ướt con nằm phía ráo Sợ cho con ướt áo, ướt chăn Hoặc khi ghẻ chóc đầy mình Chắc còn phải chịu trăm phần thảm thương Trọn ba năm bú nương sữa mẹ Thân gầy mòn nào nệ với con Đến khi vừa được lớn khôn Mẹ cha dạy bảo cho con vỡ lòng Cho đi học mở thông trí tuệ Dựng vợ chồng có thể làm ăn Ước mong con được nên thân Dầu cho cha mẹ cơ bần quản chi Con ốm đau tức thì lo chạy Dầu tốn hao cách mấy cũng đành Khi con căn bệnh đặng lành Thì cha mẹ mới an tâm định thần Công dưỡng dục sánh bằng non biển Cớ sao con chẳng biết ơn này Hoặc khi lầm lỗi bị rầy Chẳng tuân thì chớ lại bày ngỗ ngang Hờn cha mẹ phùng mang trợn mắt Khinh trưởng huynh nộ nạt thê nhi Bà con chẳng kể ra chi Không tuân sư phụ lễ nghi chẳng tường Lời dạy bảo song đường không kể Tiếng khuyên răn anh chị chẳng màng Trái ngang chóng báng mọi đàng Ra vào lui tới mắng càn người trên Vì lỗ mãng tánh quen làm bướng Chẳng kể lời trưởng thượng dạy răn Lớn lên theo lối hung hăng Đã không nhẫn nhịn lại càng hành hung Bỏ bạn lành theo cùng chúng dữ Nết tập quen làm sự trái ngang Nghe lời dụ dỗ quân hoang Bỏ cha bỏ mẹ trốn sang quê người Trước còn tập theo thời theo thế Thân lập thân tìm kế sanh nhai Hoặc đi buôn bán kiếm lời Hoặc vào quân lính với với đời lập công Vì ràng buộc đồng công mối nợ Ngoặc trở ngăn vì vợ vì con Quên cha quên mẹ tình thâm Quên xứ quên sở lâu năm không về Ấy là nói những người có chí Chớ phần nhiều du hý mà thôi Sau khi phá hết của rồi Phải tìm phương kế kiếm đôi đồng xài Theo trộm cướp hoặc là bài bạc Phạm tội hình, tù rạt phải vương Hoặc khi mang bệnh giữa đường Không người nuôi dưỡng bỏ thân ngoài đồng Hay tin dữ, bà con cô bác Cùng cha mẹ xao xác buồn rầu Thương con than khóc ưu sầu Có khi mang bệnh đui mù vấn vương Hoặc bệnh nặng vì thương qúa lẽ Phải bỏ mình làm quỷ giữ hồn Hoặc nghe con chẳng lo lường Trà đình tửu điếm phố phường ngao du Cứ mài miệt với đồ bất chánh Chẳng mấy khi thần tỉnh mộ khang Làm cho cha mẹ than van Sanh con bất hiếu phải mang tiếng đời Hoặc cha mẹ đến hồi già yếu Không ai nuôi thiếu thốn mọi điều Ốm đau đói rách kêu rêu Con không cấp dưỡng bỏ liều chẳng thương Phận con gái còn nương cha mẹ Thì có lòng hiếu để thuận hòa Cần lao phục dịch trong nhà Dễ sai dễ khiến hơn là nam nhi Song đến lúc tùng phu xuất giá Lo bên chồng chẳng xá bên mình Trước còn lai vãng viếng thăm Lần lần nguội lạnh biệt tăm biệt nhà Quên dưỡng dục song thân ơn trọng Không nhớ công mang nặng đẻ đau Chẳng lo báo bổ cù lao Làm cho cha mẹ buồn rầu thảm thay Nếu cha mẹ rầy la quở mắng Trở sanh lòng hờn giận chẳng kiêng Chớ chi chồng đánh liên miên Thì cam lòng chịu chẳng phiền chẳng than Tội bất hiếu lưỡng ban nam nữ Nói không cùng nghiệp dữ phải mang Nghe Phật chỉ rõ mọi đàng Trong hàng đại chúng lòng càng thảm thay Gieo xuống đất, lấy cây lấy củi Đập vào mình, vào mũi vào hông Làm cho các lỗ chân lông Thảy điều ruớm máu ướt đầm cả thân Đến hôn mê tâm thần bất định Một giây lâu mới tỉnh than rằng Bọn ta quả thiệt tội nhơn Xưa nay chẳng rõ không hơn người mù Nay tỏ ngộ biết bao lầm lạc Ruột gan dường như nát như tan Tội tình khó nỗi than van Làm sao trả đặng muôn ngàn ơn sâu Trước Phật tiền ai cầu trần tố Xin Thế Tôn mẫn cố bi lân Làm sao báo đáp thù ân Tỏ lòng hiếu thuận song thân của mình Phật bèn dụng phạm thinh sáu món Phân rõ cùng Đại chúng lóng nghe Ơn cha nghĩa mẹ nặng nề Không phương báo đáp cho vừa sức đâu! Ví có người ơn sâu dốc trả Cõng mẹ cha tất cả hai vai Giáp vòng hòn núi tu di Đến trăm ngàn kiếp ơn kia chưa đền Ví có người gặp cơn đói rét Nuôi song thân dâng hết thân này Xương nghiền thịt nát phân thây Trải trăm ngàn kiếp ơn đây chưa đồng Ví có người vì công sanh dưỡng Tự tay mình khoét thủng song ngươi Chịu thân mù tối như vầy Đến trăm ngàn kiếp ơn này thấm đâu Ví có người cầm dao thật bén Mỗ bụng ra, rút hết tâm can Huyết ra khắp đất chẳng than Đến trăm ngàn kiếp thâm ân đâu bằng Ví có người dùng ngàn mũi nhọn Đâm vào mình bất luận chỗ nào Tuy là sự khó biết bao Trải trăm ngàn kiếp không sao đáp đền Ví có người vì ơn dưỡng dục Tự treo mình cúng Phật thế đèn Cứ treo như vậy trọn năm Trải trăm ngàn kiếp ân thâm chưa đền Ví có người xương nghiền ra mỡ Hoặc dùng dao chặt bửa thân mình Xương tan thịt nát chẳng phiền Đến trăm ngàn kiếp ơn trên chưa đồng Ví có người vì công dưỡng dục Nuốt sắt nóng thấu ruột thấu gan Làm cho thân thể tiêu tan Đến trăm ngàn kiếp ơn sâu chưa đền Nghe Phật nói thảy đều kinh hãi Giọt lệ tràn khó nỗi cầm ngăn Đồng thinh bạch Phật lời rằng Làm sao trả đặng thâm ân song đường? Phật mới bảo các hàng Phật tử Phải lóng nghe ta chỉ sau này Các ngươi muốn đáp ơn dày Phải toan biên chép kinh đây lưu truyền Vì cha mẹ trì chuyên phúng tụng Cùng ăn năn những tội lỗi xưa Cúng dường Tam Bảo sớm trưa Cùng là tu phước chẳng chừa món chi Rằm tháng bảy đến ngày Tự Tứ Thập phương Tăng đều dự lễ này Sắm sanh lễ vật đủ đầy Chờ giờ câu hội đặt bày cúng dâng Đặng cầu nguyện song đường trường thọ Hoặc sanh về tịnh độ an nhàn Ấy là báo đáp thù ân Sanh thành dưỡng dục song thân của mình Mình còn phải cần chuyên trì giới Pháp tam quy ngũ giới giữ gìn Những lời ta dạy đinh ninh Khá tua y thử phụng hành đừng sai Được như vậy mới là khỏi tội Bằng chẳng thì ngục tối phải sa Trong năm đại tội kể ra Bất hiếu thứ nhất, thật là trọng thay Sau khi chết bị đầy vào ngục Ngục vô gián, cũng gọi A Tỳ Ngục này trong núi Thiết vi Vách phên bằng sắt vây quanh bốn bề Trong ngục này hàng ngày lửa cháy Đốt tội nhân hết thảy thành than Có lò nấu sắt cho tan Rót vào trong miệng tội nhân hành hình Một vá đủ cho người thọ khổ Lột thịt da đau thấu tâm can Lại có chó sắt, rắn gang Phun ra khói lửa đốt đoàn tội nhơn Ở trong ngục có giường bằng sắt Bắt tội nhơn nằm khắp đó xong Rồi cho một ngọn lửa hồng Nướng quay kẻ tội da phòng thịt thau Móc bằng sắt, thương đao gươm giáo Trên không trung đổ tháo như mưa Gặp ai chém náy chẳng chừa Làm cho thân thể nát nhừ như tương Những hình phạt vô phương kể hết Mỗi ngục đều có cách trị riêng Như là xe sắt phân thây Chim ưng mổ mắt trâu cày lưỡi le Chớ chi đặng chết liền rất đỡ Vì nghiệp duyên không nỡ hành thân Ngày đêm chết sống muôn lần Đến trăm ngàn kiếp không ngừng một giây Sự hành phạt tại A Tỳ ngục Rất nặng nề ngỗ nghịch song thân Chúng ngươi đều phải ân cần Thừa hành các việc phân trần khoản trên Nhứt là phải kinh này in chép Truyền bá ra cho khắp đông tây Như ai chép một quyển nầy Ví bằng đặng thấy một vì Thế Tôn Nếu in đặng ngàn muôn quyển ấy Thì cũng bằng thấy Phật vạn thiên Do theo nguyện lực tùy duyên Chư Phật ủng hộ y như sở nguyền Cha mẹ đặng xa miền khốc lãnh Lại hóa sanh về cảnh thiên cung Khi lời Phật giảng vừa xong Khắp trong tứ chúng một lòng kính vâng Lại phát nguyện thà thân này nát Ra bụi tro, muôn kiếp chẳng nài Dầu cho lưỡi kéo trâu cày Đến trăm ngàn kiếp lời Thầy không quên Ví như bị bá thiên đao kiếm Khắp thân này đâm chém phân thây Hoặc như lưới trói thân này Trải trăm ngàn kiếp lời Thầy chẳng sai Dầu thân này bị cưa bị chặt Phân chia ra muôn đoạn rã rời Đến trăm ngàn kiếp như vầy Chúng con cũng chẳng trái lời Thầy khuyên Đức A Nan kiền thiền đảnh lễ Cầu Thế Tôn đặt để hiệu Kinh Ngày sau truyền bá chúng sanh Dễ bề phúng tụng, trì chuyên tu hành Phật mới bảo A Nan nên biết Quyển kinh này quả thiệt cao xa Đặt tên "Báo Hiếu Mẹ Cha" Cùng là "Ân Trọng " thiệt là chơn kinh Các ngươi phải giữ gìn châu đáo Đặng đời sau y giáo phụng hành Sau khi Phật dạy rành rành Bốn ban Phật tử rất mừng rất vui Thảy một lòng vâng theo lời Phật Và kính thành tin chắc vẹn truyền Đồng nhau tựu tại Phật tiền Nhất tâm đảnh lễ rồi liền lui ra.
Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Lê Dương Tiến - Bác sĩ Nội tổng hợp - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng. Bác sĩ Tiến có nhiều năm kinh nghiệm về nội cơ xương khớp. Bệnh loãng xương thường được cho là bệnh của nữ giới. Tuy nhiên, trong những cuộc nghiên cứu gần đây đã tuyên bố rằng đây là một sự ngộ nhận tai hại. Thực tế, bệnh loãng xương không loại trừ bất cứ ai, kể cả nam hay nữ. 1. Bệnh loãng xương ở nam giới là gì? Loãng xương là một rối loạn chuyển hóa của bộ xương, khiến cho xương trở nên yếu và làm tăng nguy cơ gãy xương. Xương giòn đến mức chỉ cần bạn bị ngã hoặc cử động nhẹ như cúi xuống, ho cũng có thể bị gãy xương. Tình trạng này thường xảy ra nhiều nhất ở các vùng như hông, cột sống và cổ là một mô sống, chúng liên tục bị phá vỡ và thay thế. Tình trạng loãng xương sẽ xảy ra nếu quá trình tạo xương mới của cơ thể không theo kịp với tốc độ loại bỏ xương cũ. Bên cạnh đó, sức mạnh của xương được biểu hiện bởi sự toàn vẹn về mặt khối lượng và chất lượng của lượng xương được thể hiện cụ thể như sauKhối lượng xương Bone Mass Content – BMCMật độ khoáng chất của xương Bone Mineral Density – BMDChất lượng xương phụ thuộc vào các yếu tố, bao gồmVi cấu trúc của xương, gồm thành phần chất nền của xương và thành phần chất khoáng của tích xươngChu chuyển xương, nói lên tình hình sửa chữa và tình trạng tổn thương vi cấu trúc của loãng xương thường không xuất hiện nhiều ở nam giới và có nhiều nguyên nhân khác nhau khiến các bác sĩ khó có thể chẩn đoán chính các bệnh này ở nam giới. Điều đầu tiên và quan trọng nhất là xác định được các yếu tố nguy cơ gây bệnh loãng xương vì chúng ta hoàn toàn có thể phòng ngừa và điều trị được căn bệnh này. Ngoài ra, nam giới cũng có tỷ lệ tử vong cao hơn do gãy xương ở cột sống, hông và các xương lớn khác. Bệnh loãng xương không chỉ có ở nữ giới 2. Nguyên nhân gây loãng xương ở nam giới Mật độ xương của nam giới thường cao hơn và tỷ lệ mất xương thấp hơn so với nữ giới, vì vậy gãy xương do loãng xương ở nam giới thường xảy ra ở độ tuổi khá cao từ 70 tuổi trở lên. Thêm vào đó, hậu quả gãy xương ở nam giới cũng sẽ nghiêm trọng hơn so với nữ giới. Theo thống kê, trong vòng một năm có khoảng 30% đàn ông bị tử vong sau khi gãy xương vùng hông, trong khi đó nữ giới chỉ chiếm 12%.Theo quy trình tự nhiên, xương có khả năng làm mới và phá vỡ xương cũ. Ở độ tuổi đang phát triển, cơ thể bạn sẽ hình thành xương mới nhanh hơn là phá vỡ xương cũ, khối lượng xương cũng tăng lên. Đa số mọi người đều đạt đến đỉnh khối xương khoảng 20 tuổi, những năm sau đó khi tuổi tác ngày một lớn, khối xương bị mất nhanh hơn xương mới được tạo trạng loãng xương xảy ra còn phụ thuộc một phần vào khối xương bạn đạt được khi còn trẻ. Nghĩa là, khối lượng đỉnh càng cao thì xương tích tụ càng nhiều và khả năng bạn bị loãng xương khi bước sang tuổi trung niên càng thống kê, có khoảng 50% nam giới bị bệnh loãng xương không xác định rõ nguyên nhân, ngoài lý do là tuổi tác cao. Khi tuổi tác ngày càng lớn, các tế bào tạo xương dần bị lão hóa, các hormon sinh dục cũng bị giảm thấp kèm theo sự giảm sút trong việc hấp thụ canxi và vitamin D hai yếu tố chính xây dựng xương, đã dẫn tới bệnh loãng xương. Vì vậy, nếu ở tuổi trưởng thành mà khối lượng xương không đạt đỉnh thì tình trạng loãng xương sẽ càng nặng nề. Khi tuổi tác càng lớn tình trạng loãng xương càng trở nên nặng nề 3. Những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh loãng xương ở nam giới Những yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh loãng xương cho nam giới bao gồmTuổi tác Tuổi tác càng cao trung niên trở đi đều rất dễ bị loãng vóc Nam giới có dáng vóc gầy gò, nhỏ bé đều có nguy cơ cao mắc bệnh loãng xương hơn, vì họ thường ít có dự trữ khối lượng xương để dùng khi lớn sử gia đình Trong gia đình có cha mẹ hay anh chị em bị loãng xương thì những thành viên khác cũng dễ bị mắc bệnh, đặc biệt là những người đã có tiền sử bị gãy năng tuyến sinh dục nam và các tuyến nội tiết Tuyến thượng thận, tuyến giáp,..Lạm dụng rượu Rượu là chất kích thích khiến làm giảm tiến trình tạo xương và ảnh hưởng lớn tới khả năng hấp thụ canxi của cơ thể. Đối với những người đàn ông tuổi trung niên, lạm dụng quá nhiều rượu sẽ là một trong những nguy cơ phổ biến nhất gây loãng sử sử dụng thuốc Những nam giới đã sử dụng các loại thuốc corticosteroid như cortisone, methylprednisolone, prednisone, prednisolone và dexamethasone trong thời gian dài đều dễ bị loãng xương sau thuốc lá Ở những nam giới nghiện thuốc lá sẽ có tỷ lệ gãy đốt sống cao gấp đôi so với nam giới không hút thuốc. Hút thuốc lá lằm tăng nguy cơ loãng xương ở nam giới Rối loạn ăn uống Bệnh ăn nhiều và bệnh chán ăn do nguyên nhân thần kinh đều là những yếu tố gây nguy cơ cao làm giảm tỷ trọng xương ở vùng xương hông và vùng thắt lưng. Thêm vào đó, chế độ ăn uống không cung cấp đủ lượng canxi cũng là nguyên do chính gây nên tình trạng loãng xương cho nam giới. Theo khuyến cáo, nam dưới 65 tuổi cần cung cấp 1000mg canxi mỗi ngày, trên 65 tuổi cần ít nhất là 1500mg canxi mỗi vận động Lối sống không thường xuyên vận động là một trong những nguy cơ cao gây loãng các căn bệnh mãn tính Một số căn bệnh khiến cho khả năng hấp thụ canxi giảm và ảnh hưởng xấu tới tỷ trọng xương, bao gồm đái tháo đường tuýp I phụ thuộc vào insulin, bệnh Cushing, bệnh Crohn, bệnh thận và phổi mãn tính. 4. Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh loãng xương ở nam giới Dù là nam hay nữ thì bệnh thường diễn biến một cách âm thầm theo thời gian. Người ta thường ví bệnh loãng xương như một “kẻ cắp” thầm lặng, hàng ngày lấy dần đi canxi trong ngân hàng dự trữ xương của cơ thể con người. Khi xuất hiện những dấu hiệu lâm sàng cũng là lúc đã có biến chứng, thông báo cho bạn biết cơ thể có thể đã bị mất đi khoảng 30% khối lượng xương. Những biểu hiện lâm sàng của bệnh bao gồmĐau mỏi mơ hồ ở cột sống, dọc các xương dài, đặc biệt là xương cẳng chân, đau mỏi cơ bắp, thấy ớn lạnh, thường xuyên bị chuột rút các thực sự ở cột sống, cơn đau lan theo khoanh liên sườn, đau khi ngồi lâu hoặc thay đổi tư thế. Sau chấn thương như gãy xương cổ tay, gãy cổ xương đùi, gãy lún đốt sống có thể bị đau mãn tính hoặc cấp ngực, khó thởĐầy bụng chậm tiêuGiảm chiều cao, bị gù lưngKhi có bất cứ dấu hiệu và triệu chứng nào như trên, tốt nhất bạn nên đến bác sĩ để thăm khám. Tùy thuộc vào cơ địa của từng người mà bác sĩ sẽ lựa chọn được phương án thích hợp nhất. Thăm khám và theo dõi tình trạng xương để được điều trị sớm nhất 5. Phương pháp điều trị bệnh loãng xương ở nam giới Chẩn đoán bệnh loãng xương ở nam giớiCác kỹ thuật y tế để đo mật độ xương là máy sử dụng X-quang với cường độ thấp nhằm xác định tỷ trọng khoáng trong thực hiện xét nghiệm, bạn sẽ nằm trên một thiết bị và máy quét sẽ đi qua cơ thể. Các đoạn xương thường được kiểm tra bao gồm hông, cổ tay, cột dụng thuốcNhóm Bisphosphonate Những thuốc này ức chế hủy xương và làm chậm sự mất xương, đồng thời giúp tăng tỷ trọng xương ở cột sống và xương Là thuốc làm chậm quá trình hủy xương, giảm đau, kích thích liền xương. Bên cạnh đó, nó có thể làm giảm gãy xương cột sống khoảng 40%. Thuốc được sử dụng dưới dạng xịt qua pháp testosterone bổ sung Chỉ có tác dụng với nam giới bị loãng xương do nồng độ testosterone thấp. Nếu nồng độ testosterone ở mức bình thường sẽ không làm tăng tỷ trọng khối lượng đổi lối sốngĐây được cho là cách tốt nhất để điều trị tình trạng loãng xương đối với những người đàn ông trung niên. Một số biện pháp hiệu quả bao gồm thường xuyên vận động, bổ sung đầy đủ canxi và vitamin D, hạn chế thuốc lá, rượu bia, tránh lạm dụng thuốc, tránh té ngã và điều chỉnh những bệnh lý đang mắc phải. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Bài viết tham khảo nguồn XEM THÊM Các dấu hiệu cảnh báo xương yếu Vì sao trẻ ngủ không sâu giấc, thường xuyên quấy khóc? Trẻ sơ sinh 1 tháng tuổi được dùng đồng thời men vi sinh và Vitamin D không?
PHẬT THUYẾT KINH BÁO ĐÁP CÔNG ƠN CHA MẸ Diễn nghĩa Ta từng nghe lời tạc như vầy Một thuở nọ Thế Tôn an trụ Xá vệ thành Kỳ thụ viên trung Chư Tăng câu hội rất đông Tính ra đến số hai muôn tám ngàn. Lại cũng có các hàng Bồ tát Hội tại đây đủ mặt thường thường Bấy giờ Phật lại lên đường Cùng hàng đại chúng Nam phương tiến hành. Đáo bán lộ đành rành mắt thấy Núi xương khô bỏ đấy lâu đời Thế Tôn bèn vội đến nơi Lạy liền ba lạy, rồi rơi giọt hồng. Đức A Nan trong lòng ái ngại Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương Vội vàng xin Phật dạy tường “...Thầy là Từ Phụ ba phương bốn loài Ai ai cũng kính Thầy dường ấy Cớ sao Thầy lại lạy xương khô?” Phật rằng Trong các môn đồ Người là Đệ tử đứng đầu dày công. Bởi chưa biết đục trong chưa rõ Nên vì ngươi ta tỏ đuôi đầu, Đống xương dồn dập bấy lâu Cho nên trong đó biết bao cốt hài. Chắc cũng có Ông Bà Cha Mẹ Hoặc thân ta hoặc kẻ ta sanh, Luân hồi sanh tử, tử sanh Lục thân đời trước, thi hài còn đây. Ta lễ bái kỉnh người tiền bối Và ngậm ngùi vì nhớ kiếp xưa. Đống xương hỗn tạp chẳng vừa Không phân trai gái bỏ bừa khó coi. Ngươi chịu khó xét soi cho kỹ Phân làm hai, bên nữ bên nam. Để cho phân biệt cốt phàm Không còn lộn lạo nữ nam chất chồng. Đức A Nan trong lòng tha thiết Biết làm sao phân biệt khỏi sai. Ngài bèn xin Phật tỏ bày Vì khó chọn lựa gái trai lúc này. Còn sanh tiền dễ bề sắp đặt Cách đứng đi ăn mặc phân minh, Chớ khi rã xác tiêu hình Xương ai như nấy, khó nhìn khó phân. Phật mới bảo A Nan nên biết Xương nữ nam phân biệt rõ ràng Đàn ông xương trắng nặng quằn Đàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn. Người có biết cớ sao đen nhẹ Bởi đàn bà sanh đẻ mà ra, Sanh con ba đấu huyết ra Tám hộc bốn đấu sữa hòa nuôi con. Vì cớ ấy hao mòn thân thể Xương đàn bà đen nhẹ hơn trai. A Nan nghe vậy bi ai Xót thương Cha Mẹ công dày dưỡng sanh. Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo Phương pháp nào báo hiếu song thân. Thế Tôn mới bảo lời rằng Vì ngươi ta sẽ phân trần khá nghe Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc Sanh đặng con mười tháng cưu mang. Tháng đầu, thai đậu tợ sương Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường Tháng thứ nhì dường như sữa đặc Tháng thứ ba như cục huyết ngưng. Bốn tháng đã tượng ra hình Năm tháng ngũ thể hiện sanh rõ ràng Tháng thứ sáu lục căn đều đủ Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương. Lại thêm đủ lỗ chân lông Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ Chín tháng thì đầy đủ vóc hình. Mười tháng là đến kỳ sanh Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn Bằng ngỗ nghịch làm buồn Thân mẫu Nó vẫy vùng đạp quấu lung tung. Làm cho Cha Mẹ hãi hùng Sự đau sự khổ không cùng tỏ phân Khi sanh đặng muôn phần khoái lạc Cũng ví như được bạc được vàng. Thế Tôn lại bảo A Nan Ơn Cha nghĩa Mẹ mười phần phải tin Điều thứ nhất giữ gìn thai giáo Mười tháng trường chu đáo mọi bề. Thứ hai sanh đẻ gớm ghê Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần Điều thứ ba, thâm ân nuôi dưỡng Cực đến đâu bền vững chẳng lay. Thứ tư ăn đắng nuốt cay Để dành bùi ngọt đủ đầy cho con Điều thứ năm lại còn khi ngủ Ướt Mẹ nằm, khô ráo phần con. Thứ sáu, sú nước nhai cơm Miễn con no ấm chẳng nhờm gớm ghê Điều thứ bảy không chê ô uế Giặt đồ dơ của trẻ không phiền. Thứ tám chẳng nỡ chia riêng Nếu con đi vắng Cha phiền Mẹ lo Điều thứ chín miễn con sung sướng Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam. Tính sao có lợi thì làm Chẳng màng tội lỗi, bị giam bị cầm Điều thứ mười chẳng ham chau chuốt Dành cho con các cuộc thanh nhàn. Thương con như ngọc như vàng Ơn Cha nghĩa Mẹ sánh bằng Thái sơn Phật lại bảo A Nan nên biết Trong chúng sanh tuy thiệt phẩm người. Mười phần mê muội cả mười Không tường ơn trọng đức dày song thân Chẳng kính mến, quên ơn, trái đức Không xót thương dưỡng dục cù lao. Ấy là bất hiếu mặc giao Thì những người ấy đời nào nên thân Mẹ sanh con cưu mang mười tháng Cực khổ dường gánh nặng trên vai. Uống ăn chẳng đặng vì thai Cho nên thân thể hình hài kém suy Khi sanh sản hiểm nguy chi xiết Sanh đặng rồi tinh huyết dầm dề. Ví như thọc huyết trâu dê Nhất sanh thập tử nhiều bề gian nan Con còn nhỏ phải năng chăm sóc Ăn đắng cay bùi ngọt phần con. Phải tắm, phải giặt, rửa trôn Biết rằng dơ dáy Mẹ không ngại gì Nằm phía ướt con thì phía ráo Sợ cho con ướt áo, ướt chăn. Hoặc khi ghẻ chóc khắp thân Ắt con phải chịu trăm phần thảm thương Trọn ba năm bú nương sữa Mẹ Thân gầy mòn nào nệ với con. Đến khi vừa được lớn khôn Cha Mẹ dạy bảo cho con vỡ lòng Cho đi học mở thông trí tuệ Dựng vợ chồng có thể làm ăn. Ước mong con được nên thân Dầu cho Cha Mẹ cơ bần quản chi Con đau ốm tức thì lo chạy Dầu tốn hao cách mấy cũng đành. Khi con căn bệnh đặng lành Thì Cha Mẹ mới an tâm định thần Công dưỡng dục sánh bằng non biển Cớ sao con chẳng biết ơn này. Hoặc khi lầm lỗi bị rầy Chẳng tuân thì chớ lại bày ngỗ ngang Hỗn Cha Mẹ phùng mang trợn mắt Khinh trưởng huynh nộ nạt thê nhi. Bà con chẳng kể ra chi Không tuân Sư phụ lễ nghi chẳng tường Lời dạy bảo song đường không kể Tiếng khuyên răn anh chị chẳng màng. Trái ngang chống báng mọi đàng Ra vào lui tới mắng càn người trên Vì lỗ mãng tánh quen làm bướng Chẳng kể lời trưởng thượng dạy răn. Lớn lên theo lối hung hăng Đã không nhẫn nhịn lại càng hành hung Bỏ bạn lành theo cùng chúng dữ Nết tập quen làm sự trái ngang. Nghe lời dụ dỗ quân hoang Bỏ Cha bỏ Mẹ trốn sang quê người Trước còn tập theo thời theo thế Thân lập thân tìm kế sanh nhai. Hoặc đi buôn bán kiếm lời Hoặc vào quân lính với đời lập công Vì ràng buộc đồng công mối nợ Hoặc trở ngăn vì vợ vì con. Quên Cha quên Mẹ tình thâm Quên xứ quên sở lâu năm không về Ấy là nói những người có chí Chớ phần nhiều du hý mà thôi. Sau khi phá hết của rồi Phải tìm phương kế kiếm đôi đồng xài Theo trộm cướp hoặc là bài bạc Phạm tội hình, tù ngục phải vương. Hoặc khi mang bệnh giữa đường Không người nuôi dưỡng bỏ thân ngoài đồng Hay tin dữ, bà con cô bác Cùng Mẹ Cha xao xác buồn rầu. Thương con than khóc ưu sầu Có khi mang bệnh đui mù vấn vương Hoặc bệnh nặng vì thương quá lẽ Phải bỏ mình làm quỷ giữ hồn. Hoặc nghe con chẳng lo lường Trà đình tửu điếm phố phường ngao du Cứ mài miệt với đồ bất chánh Chẳng mấy khi thần tỉnh mộ khang. Làm cho Cha Mẹ than van Sanh con bất hiếu phải mang tiếng đời Hoặc Cha Mẹ đến hồi già yếu Không ai nuôi thiếu thốn mọi điều. Ốm đau đói rách kêu rêu Con không cấp dưỡng bỏ liều chẳng thương Phận con gái còn nương Cha Mẹ Thì có lòng hiếu để thuận hòa. Cần lao phục dịch trong nhà Dễ sai dễ khiến hơn là nam nhi Song đến lúc tùng phu xuất giá Lo bên chồng chẳng sá bên mình. Trước còn lai vãng viếng thăm Lần lần nguội lạnh biệt tăm biệt nhà Quên dưỡng dục song thân ơn trọng Không nhớ công mang nặng đẻ đau. Chẳng lo báo bổ cù lao Làm cho Cha Mẹ buồn rầu thảm thay Nếu Cha Mẹ rầy la quở mắng Trở sanh lòng hờn giận chẳng kiêng. Chớ chi chồng đánh liên miên Thì cam lòng chịu chẳng phiền chẳng than Tội bất hiếu lưỡng ban nam nữ Nói không cùng nghiệp dữ phải mang. Nghe Phật chỉ rõ mọi đàng Trong hàng Đại chúng lòng càng thảm thay Gieo xuống đất, lấy cây lấy củi Đập vào mình, vào mũi vào hông. Làm cho các lỗ chân lông Thảy điều rướm máu ướt đầm cả thân Đến hôn mê tâm thần bất định Một giây lâu mới tỉnh than rằng Bọn ta quả thiệt tội nhơn Xưa nay chẳng rõ không hơn người mù Nay tỏ ngộ biết bao lầm lạc Ruột gan dường như nát như tan. Tội tình khó nỗi than van Làm sao trả đặng muôn ngàn ơn sâu Trước Phật tiền ai cầu trần tố Xin Thế Tôn mẫn cố bi lân. Làm sao báo đáp thù ân Tỏ lòng hiếu thuận song thân của mình Phật bèn dụng phạm thinh sáu món Phân rõ cùng Đại chúng lóng nghe Ơn Cha nghĩa Mẹ nặng nề Không phương báo đáp cho vừa sức đâu. Ví có người ơn sâu dốc trả Cõng Mẹ Cha tất cả hai vai Giáp vòng hòn núi Tu di Đến trăm ngàn kiếp ơn kia chưa đền. Ví có người gặp cơn đói rét Nuôi song thân dâng hết thân này Xương nghiền thịt nát phân thây Trải trăm ngàn kiếp ơn đây chưa đồng Ví có người vì công sanh dưỡng Tự tay mình khoét thủng song ngươi Chịu thân mù tối như vầy Đến trăm ngàn kiếp ơn này thấm đâu Ví có người cầm dao thật bén Mổ bụng ra, rút hết tâm can Huyết ra khắp đất chẳng than Đến trăm ngàn kiếp thâm ân đâu bằng Ví có người dùng ngàn mũi nhọn Đâm vào mình bất luận chỗ nào Tuy là sự khó biết bao Trải trăm ngàn kiếp không sao đáp đền Ví có người vì ơn dưỡng dục Tự treo mình cúng Phật thế đèn Cứ treo như vậy trọn năm Trải trăm ngàn kiếp ân thâm chưa đền Ví có người xương nghiền ra mỡ Hoặc dùng dao chặt bửa thân mình Xương tan thịt nát chẳng phiền Đến trăm ngàn kiếp ơn trên chưa đồng. Ví có người vì công dưỡng dục Nuốt sắt nóng thấu ruột thấu gan Làm cho thân thể tiêu tan Đến trăm ngàn kiếp thâm ân chưa đền Nghe Phật nói thảy đều kinh hãi Giọt lệ tràn khó nỗi cầm ngăn Đồng thinh bạch Phật lời rằng Làm sao trả đặng thâm ân song đường ? Phật mới bảo các hàng Phật tử Phải lóng nghe ta chỉ sau này Các ngươi muốn đáp ơn dày Phải toan biên chép Kinh đây lưu truyền Vì Cha Mẹ trì chuyên phúng tụng Cùng ăn năn những tội lỗi xưa Cúng dường Tam Bảo sớm trưa Cùng là tu phước chẳng chừa món chi Rằm tháng Bảy đến kỳ tự tứ Mười phương Tăng đều dự lễ này Sắm sanh lễ vật đủ đầy Chờ giờ câu hội đặt bày cúng dâng Đặng cầu nguyện song đường trường thọ. Hoặc sanh về Tịnh Độ an nhàn Ấy là báo đáp thù ân Sanh thành dưỡng dục song thân của mình. Mình còn phải cần chuyên trì giới Pháp Tam quy, Ngũ giới giữ gìn Những lời Ta dạy đinh ninh Khá nên y thử phụng hành đừng sai Được như vậy mới là khỏi tội Bằng chẳng thì ngục tối phải sa Trong năm đại tội kể ra Bất hiếu thứ nhất, thật là trọng thay Sau khi chết bị đày vào ngục Ngũ vô gián, cũng gọi A tỳ Ngục này trong núi Thiết vi Vách phên bằng sắt vây quanh bốn bề Trong ngục này hàng ngày lửa cháy Đốt tội nhân hết thảy thành than Có lò nấu sắt cho tan Rót vào trong miệng tội nhân hành hình Một vá đủ cho người thọ khổ Lột thịt da đau thấu tâm can Lại có chó sắt, rắn gang Phun ra khói lửa đốt đoàn tội nhơn Ở trong ngục có giường bằng sắt Bắt tội nhơn nằm khắp đó xong Rồi cho một ngọn lửa hồng Nướng quay chúng nó da phòng thịt thau Móc bằng sắt, thương đao gươm giáo Trên không trung đổ tháo như mưa Gặp ai chém nấy chẳng chừa Làm cho thân thể nát nhừ như tương Những hình phạt vô phương kể hết Mỗi ngục đều có cách trị riêng Như là xe sắt phân thây Chim ưng mổ mắt trâu cày lưỡi lê Chớ chi đặng chết liền rất đỡ Vì nghiệp duyên không nỡ hành thân Ngày đêm chết sống muôn lần Đến trăm ngàn kiếp không ngừng một giây Sự hành phạt tại A tỳ ngục Rất nặng nề ngỗ nghịch song thân Chúng ngươi đều phải ân cần Thừa hành các việc phân trần khoảng trên Nhứt là phải Kinh này in chép Truyền bá ra cho khắp đông tây Như ai chép một quyển này Ví bằng đặng thấy một vì Thế Tôn Nếu in đặng ngàn muôn quyển ấy Thì cũng bằng thấy Phật vạn thiên Do theo nguyện lực tùy duyên Chư Phật ủng hộ y như sở nguyền Cha Mẹ đặng xa miền khốc lãnh Lại hóa sanh về cảnh Thiên cung Khi lời Phật giảng vừa xong Khắp trong tứ chúng một lòng kính vâng Lại phát nguyện thà thân này nát Ra bụi tro, muôn kiếp chẳng nài Dầu cho lưỡi kéo trâu cày Đến trăm ngàn kiếp lời Thầy không quên Ví như bị bá thiên đao kiếm Khắp thân này đâm chém phân thây Hoặc như lưới trói thân này Trải trăm ngàn kiếp lời Thầy chẳng sai Dầu thân này bị cưa bị chặt Phân chia ra muôn đoạn rã rời Đến trăm ngàn kiếp như vầy Chúng con cũng chẳng trái lời Thầy khuyên Đức A Nan kiền thiền đảnh lễ Cầu Thế Tôn đặt để hiệu Kinh Ngày sau truyền bá chúng sanh Dễ bề phúng tụng, trì chuyên tu hành Phật mới bảo A Nan nên biết Quyển kinh này quả thiệt cao xa Đặt tên "Báo Hiếu Mẹ Cha" Cùng là "Ân Trọng" thiệt là chơn Kinh Các ngươi phải giữ gìn châu đáo Đặng đời sau y giáo phụng hành Sau khi Phật dạy rành rành Bốn ban Phật tử rất mừng rất vui Thảy một lòng vâng theo lời Phật Và kính thành tin chắc vẹn truyền Đồng nhau tựu tại Phật tiền Nhất tâm đảnh lễ rồi liền lui ra. - Nam mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát. 3 lần TÂM KINH Tâm trí tuệ thinh thinh rộng lớn Sáng trong ngần chẳng bợn mảy trần Làu làu một tánh thiên chân Bao trùm muôn loại chẳng phân thánh phàm Vận tâm ấy lặng trong sáng suốt Cõi bờ kia một bước đến nơi Trải lòng tròn đủ xưa nay Công thành quả chứng tỏ bày đích đang Hàng Bồ tát danh Quan Tự Tại Khi tham thiền vô ngại đến trong Thẩm vào trí huệ mở thông Soi thấy năm uẩn đều không có gì Độ tất cả không chi khổ ách Trong thức tâm hiện cảnh sắc ra Sắc, không chung ở một nhà Không chẳng khác sắc, sắc nào khác không Ấy sắc tướng cũng đồng không tướng Không tướng y như tượng sắc kia Thọ tưởng hành thức phân chia Cũng lại như vậy, tổng về chân không Tòa sắc tướng nhơn ông tạm đó Các pháp kia tướng nọ luống trơn Chẳng sanh chẳng diệt thường chơn Chẳng cấu, chẳng tịnh, chẳng sờn, chẳng thêm Cớ ấy nên cõi trên không giới Thể làu làu vô ngại thường chân Vốn không năm uẩn ấm thân Sáu căn chẳng có sáu trần cũng không Thấy rỗng không mà không nhãn giới Biết hoàn toàn thức giới cũng không Tánh không sáng suốt đại đồng Vô minh chẳng có mựa hồng hết chi Vẫn không có thân gì già chết Huống chi là hết chết già sao Tứ đế cũng chẳng có nào Không chi là trí có nào đắc chi Do vô sở đắc ly tất cả Nhơn pháp kia đều xả nhị không Vận lòng trí huệ linh thông Bờ kia mau đến tâm không ngại gì Không quái ngại có chi khủng bố Tức xa lìa mộng tưởng đảo điên Tâm không rốt ráo chư duyên Niết Bàn quả chứng chơn nguyên hoàn toàn Tam thế Phật, y đàng Bát nhã Đáo Bồ đề chứng quả chánh nhơn Cho hay Bát nhã là hơn Pháp môn tối thắng cõi chơn mau về Thiệt thần chú linh tri đại lực Thiệt thần chú đúng mực quang minh Ấy chú tối thượng oai linh Ấy chú vô đẳng thinh thinh oai thần Trừ tất cả nguyên nhân các khổ Thức tỉnh lòng giác ngộ vô sư Thiên nhơn chơn thiệt bất hư Án lam thần chú chơn như thuyết rằng "Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha" 3 lần VÃNG SANH QUYẾT ĐỊNH CHƠN NGÔN Nam mô a di đa bà dạ. Đa tha dà đa dạ, đa điệt dạ tha. A di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất đam bà tỳ. A di rị đa, tỳ ca lan đế. A di rị đa, tỳ ca lan đa. Dà di nị, dà dà na. Chỉ đa ca lệ, ta bà ha. 3 lần BÀI TÁN THÁN PHẬT A DI ĐÀ Chúng Thích tử kiền thiền xưng tán Đức Di Đà vô hạn lợi sanh Bốn mươi tám nguyện viên thành Hiện ra tướng tốt sắc thân tuyệt vời. Kim sắc tướng muôn ngàn công đức Khắp mười phương chẳng bực sánh bằng Bạch hào hiển hiện phóng quang Xoay vần chiếu sáng vi san năm tòa. Cặp thanh nhãn thấy xa vô ngại Sáng trong ngần tứ đại hải dương Hào quang hóa Phật không lường Hóa chúng Bồ tát số đương hằng hà. Độ chúng sanh liên hoa chín phẩm Nước Lạc Bang là cảnh Tây Phương Chí thành thập niệm chiêu chương Hiện tiền thánh chúng dẫn đường vãng mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
đàn ông xương trắng nặng quằn